Số lượt truy cập:   575414


BÀN VỀ GIAO QUYỀN SỬ DỤNG MẶT NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÙNG NƯỚC VEN BỜ TRONG ĐỒNG QUẢN LÝ (ĐQL)
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 16/11/09-08:36:37

Giao quyền sở hữu mặt nước có phải là nhu cầu bức bách của cộng đồng?


Về mặt lý thuyết của ĐQL thì việc giao quyền sở hữu vùng nước (GQSHMN) cho cộng đồng quản lý là bắt buộc, là một trong những yếu tố thành công của ĐQL, đồng thời cũng là sự khác nhau căn bản giữa Quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng và ĐQL.

Tuy nhiên, thực tiễn ở Việt Nam việc GQSHMN cho cộng đồng ngư dân có phải là yêu cầu bức bách của họ hay không?.

 

Vùng nước có độ sâu từ 10 đến >20m

Theo Quy trình ĐQL - Tiền khả thi là Nghiên cứu khoa học (Võ Thiên Lăng, 2001). Trong đó, đối với mặt nước biển là phải quy hoạch nuôi biển cho từng huyện có biển (Điều 23, Luật Thủy sản). Về vấn đề này Sở Nông nghiệp và PTNT phải tham mưu cho UBND tỉnh hợp đồng với Viện chuyên ngành (Ví dụ: Viện Hải Dương học Nha Trang) thực hiện bằng ngân sách của tỉnh. Một khi Quy hoạch được UBND tỉnh phê duyệt thì đây là khung pháp lý để các huyện, Sở Nông nghiệp và PTNT có cơ sở chỉ đạo việc phát triển NTTS với các đối tượng (được lượng hóa bằng số lượng lồng nuôi, diện tích vùng nuôi…) phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng nước (kể cả đáy biển). Đây cũng là khung pháp lý quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và tạo sinh kế mới (hoặc sinh kế đan xen) cho cộng đồng ngư dân nghề cá nhỏ ven bờ (yếu tố thứ hai của ĐQL - sinh kế/phát triển kinh tế).

Như vậy, bản thân Quy hoạch nuôi biển đã xác định vùng nuôi, vấn đề còn lại là tổ chức cộng đồng tự quản. Yêu cầu giao vùng nước cho cộng đồng không thấy xuất hiện. Tâm lý của ngư dân là đầu tư tập trung vào vùng nước đã quy hoạch để bảo vệ và hỗ trợ nhau trong sản xuất. Tính cộng cộng đồng cao là điều kiện để xây dựng mô hình ĐQL.

 

Vùng nước ven bờ có độ sâu từ 10m trở vào bờ

Là vùng nước khá nhạy cảm bởi lẻ nó dính liền với các tài nguyên biển ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản đó là rạn san hô, cỏ biển, rong biển, đồng thời đây cũng là vùng nước ngư dân nghề cá nhỏ (ngư dân nghèo) thường xuyên kiếm cái ăn ở đây. Nhiều nghề cấm cũng thường xuyên hoạt động ở vùng nước này. Vùng nước này cũng là vùng nước “vô chủ” nằm sát các thôn ven biển. Cần phải giao vùng nước này cho cộng đồng quản lý. Để có thể giao vùng nước này cho cộng đồng quản lý cần phải tiến hành kiểm kê lại tài nguyên và với điều kiện sinh thái cụ thể nuôi đựợc con gì?(vẫn là công tác nghiên cứu khoa học) phù hợp với tài chính của ngư dân nghèo. UBND cấp huyện hoàn toàn có quyền giao vùng nước này cho cộng đồng (Khoản 2, Điều 28, Luật Thủy sản).

Tại sao phải kiểm kê rạn san hô, cỏ biển, rong biển? Bởi vì nguồn lợi thủy sản gắn liền với sự tồn tại của các tài nguyên trên một cách hữu cơ. Các tài nguyên này hầu hết đều bị phá hủy cần được khôi phục và tất nhiên nguồn lợi thủy sản sẽ được cải thiện. Muốn vậy phải xây dựng một số mô hình khuyến ngư để khôi phục tài nguyên biển và phát triển nuôi đối tượng mới. Đây là giai đoạn khả thi của ĐQL (Võ Thiên Lăng, 2001). Cộng đồng ngư dân sẽ không yêu cầu giao vùng nước cho họ mà ở đó không có lợi ích nào của họ. Như vậy, những vùng nước có thể giao cho cộng đồng là các khu bảo tồn cỡ nhỏ. Tất nhiên muốn các khu bảo tồn nhỏ này đem lại hiệu quả kinh tế phải mất thời gian và cả tài chính thông qua các mô hình khuyến ngư (Ví dụ như khu Rạn Trào, Vạn Hưng Vạn Ninh, Khánh Hòa MCD tài trợ kéo dài đã hơn 10 năm). Nếu không có tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ thì khó có thể vực tiềm năng thành hiệu quả thực tiễn.

Thực ra tại Quy hoạch nuôi biển đã quy định rõ ràng vùng nuôi với các đối tượng nuôi (không phải lồng bè), vì vậy cũng chưa cần giao vùng nước cho cộng đồng.. Vấn đề quan trọng là làm sao đưa đối tượng nuôi trở thành có hiệu quả và quản lý tốt theo Quy hoạch không cho phát triển quá mức quy định dẫn đến ô nhiễm môi trường. Khi phong trào đã phát triển khá tốt thì tổ chức cộng đồng theo mô hình ĐQL.

Thực tế tại xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, chúng tôi đã phải huy động tài chính và các nhà khoa học, Trung tâm Khuyến ngư giải quyết bài toán khôi phục vẹm xanh. Trước tiên phải trả lời câu hỏi có thể khôi phục vẹm xanh hay không? Mất 1 năm trời mô hình khôi phục vẹm xanh mới thành công. 3 năm sau mới có phong trào nuôi vẹm xanh, ngư dân tự đầu tư một cách sáng tạo, vẹm xanh trở thành hàng hóa cải thiện đời sống ngư dân xã Ninh Ích. Vai trò của nhóm hạt nhân bao gồm các thôn trưởng là những người trực tiếp triển khai mô hình khuyên ngư có ý nghĩa rất quan trọng. Chính họ miệng nói tay làm đã tạo ra lòng tin cho ngư dân và hướng dẫn cho ngư dân phát triển thành phong trào. Hàng ngàn cọc treo vẹm cùng với hệ thống dây treo bẩy tôm hùm giống đã trở thành “ma trận” bảo vệ vùng biển ven bờ, không còn bất cứ một nghề cấm nào có thể hoạt động. Như vậy, sở hữu vùng nước gắn liền với lợi ích của ngư dân khi vùng nước có tiềm năng đã được đánh thức. Còn khi tiềm năng vùng nước chưa được đánh thức thì không ai yêu cầu giao vùng nước.

 

Kết luận:

- Quy hoạch nuôi biển là công việc cần phải làm đầu tiên.

- Trong quy hoạch vùng nước từ 10m nước trở vào bờ các nhà khoa học đều chỉ ra nuôi con gì là phù hợp, nhưng để đánh thức tiềm năng đòi hỏi phải có các mô hình khuyến ngư để khẳng định nuôi con gì là phù hợp có hiệu quả kinh tế. Muốn vậy, phải mất khá nhiều thời gian và tài chính. Ngân sách Nhà nước phải bỏ ra để đánh thức tiềm năng, nếu không kêu gọi được tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ.

- GQSDMN không phải là yếu tố quá quan trọng như lý thuyết ĐQL đề ra, mà tùy theo nhu cầu cụ thể của từng vùng mà giải quyết cho phù hợp.

Võ Thiên Lăng

PCT Hội Nghề cá Việt Nam

CT Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa

 







CÁC TIN KHÁC
  ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ NHỎ VEN BỜ Ở VIỆT NAM
  LỜI NGỎ
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang