Số lượt truy cập:   576646


Những điều ngư dân cần biết trong hoạt động thủy sản (Kỳ 2)
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 14/09/09-10:21:04

(ĐCSVN) – 12 câu hỏi-trả lời đầu tiên của Phần 1 là những kiến thức chung về Luật Biển quốc tế, vùng nước nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế... 15 câu hỏi-trả lời tiếp theo sẽ tiếp tục cung cấp cho bạn đọc những thông tin cần thiết về vùng biển, thềm lục địa Việt Nam, tiềm năng phát triển kinh tế biển, chiến lược biển Việt Nam...


* Xem kỳ 1

 

 

Câu hỏi 13: Quốc gia quần đảo là gì? Có những quốc gia quần đảo nào ở khu vực Biển Đông và ảnh hưởng đến lợi ích biển của Việt Nam như thế nào?

Trả lời:

Quốc gia quần đảo được định nghĩa tại Điều 46 của Công ước 1982 là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều đảo, trong đó các đảo có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị.

Trong khu vực Biển Đông có hai quốc gia quần đảo là Philippine và Indonesia, được cấu thành bởi hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, cả Philippine và Indonesia nhờ đó có quyền sử dụng một không gian biển rộng lớn hơn nhiều so với các nước ven bờ lục dịa, gồm cả vùng nước bên trong các nhóm đảo bao bọc và các vùng biển và thềm lục địa trả rộng ra xung quanh các quốc gia này.

 

Câu hỏi 14: Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam gồm những nội dung và lĩnh vực gì?

Trả lời:

Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam có thể được phân loại theo các lĩnh vực sau:

- Pháp luật về bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển (Ví dụ: Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục dịa Việt Nam; Luật Biên giới quốc gia – 2003...).

- Pháp luật về khai thác tài nguyên thiên nhiên trên biển (Luật Thủy sản, Luật Dầu khí. . .).

- Pháp luật về nghiên cứu khoa học biển (Nghị định 242 HĐBT/ ngày 5/8/1991...)

- Pháp luật về du lịch biển, đảo Việt Nam(Luật Du lịch...)

- Pháp luật về giao thông, vận tải biển (Bộ Luật Hàng hải...)

- Pháp luật về đảm bảo trật tự, an toàn trên biển (Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển...)

- Pháp luật về bảo vệ môi trường biển (Luật Bảo vệ môi trường – 2005...)

 

Câu hỏi 15: Cách thức giải quyết hòa bình các tranh chấp trên biển được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Trong lịch sử, hầu hết các tranh chấp đều được giải quyết bằng con đường vũ lực. Một số nước lớn trước đây thường xuyên lấn lướt các nước nhỏ, đe dọa sử dụng vũ lực và sử dụng quân sự để gây chiến tranh giải quyết tranh chấp. Ngày nay, nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp đã trở thành nguyên tắc cơ bản, được ghi nhận tại Hiến chương của Liên Hợp Quốc và các văn bản pháp lý khác nhau.

Theo qui định của Công ước 1982, các tranh chấp được giải quyết trước hết theo nguyên tắc thỏa thuận. Các nước tranh chấp tiến hành đàm phán với nhau song phương hoặc đa phương để giải quyết các bất đồng. Khi không thể đàm phán hoặc đàm phán không có kết quả, các bên có thể đệ đơn ra các cơ quan tài phán quốc tế theo một trình tự cụ thể. Việc giải quyết tranh chấp được qui định cụ thể tại phần 15 của Công ước 1982.

Thực tiễn quốc tế cho thấy, các quốc gia tranh chấp có thể sử đụng biện pháp hợp tác cùng phát triển ở khu vực tranh chấp trong khi chờ đợi tìm ra giải pháp cho tranh chấp mà không gây ảnh hưởng tới quan điểm của các bên, giải pháp tạm thời này hoàn toàn phù hợp với Công ước 1982 và đang là một xu thế ở một số khu vực trên thế giới.

 

Câu hỏi 16: Việt Nam tiếp giáp với những biển và đại dương nào?

Trả lời:

Khác với hầu hết các quốc gia trong khu vực, Việt Nam tiếp giáp duy nhất với Biển Đông. Hơn 3260 km chiều dài lục địa phía Đông Việt tiếp giáp với biển. Biển Đông, một trong sáu biển lớn nhất thế giới có diện tích vào khoảng 3.447.000km2. Đây là một biển nửa kín thông với Thái Bình Dương và ấn Độ Dương qua các eo biển. Trên Biển Đông có những tuyến đường giao thông hàng hải và hàng không quan trọng vào bậc nhất thế giới nối ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối châu Âu, Trung Cận Đông với khu vực Đông Bắc và Đông Nam của Châu Á.

Trên biển, Việt Nam tiếp giáp với hai vịnh lớn:

Vịnh Bắc Bộ: nằm ở phía Tây Biển Đông, được bờ biển của Việt và Trung Quốc bao bọc. Diện tích của vịnh vào khoảng 126.250km2, chiều ngang, nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km. Đây là một vịnh nông, nơi sâu nhất chỉ độ 100m.

Vịnh Thái Lan: nằm ở Tây Nam biển Đông, được bờ biển của các nước Việt Nam, Malaysia, Campuchia, Thái Lan bao bọc. Diện tích của vịnh là khoảng 293.000 km2, nơi sâu nhất là 80 m.

Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi các nước Trung Quốc (gồm cả Đài Loan), Philippine, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia.

 

Câu hỏi 17: Biển, đảo Việt Nam  có dặc điểm kinh tế - xã hội và vai trò như thế nào với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay?

Trả lời:

Với trên 3.260 km bờ biển trả dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Với tỷ lệ khoảng 100 km2 diện tích đất liền/1km bờ biển, Việt Namthuộc các quốc gia ven biển có tỷ lệ đất/biển khá cao (trung bình của thế giới là 600 km2 diện tích lục địa/1km bờ biển). Hiện nay, nước ta có tổngcộng 29 tỉnh, thành phố ven biển, chiếm 42% diện tích và 31% số dân cả nước, trong đó 15,5 triệu người sống ở khu vực đới bờ và 16 vạn người ở các đảo và quần đảo. Ven bờ Việt Nam có trên 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ tập trung ở vùng biển Đông Bắc, 40 hòn đảo ở vùng biển Bắc Trung Bộ và số còn lại ở các vùng biển Nam Trung Bộ, Tây Nam. Trên Biển Đông, Việt Namcó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là vùng lãnh thổ thiêng liêng của đất nước, có vị trí địa chính trị hết sức chiến lược cả về an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế.

 

Câu hỏi 18: Có bao nhiêu thỏa thuận và hiệp định mà Việt Nam đã đàm phán, ký kết được với các nước láng giềng về phân định và hợp tác trên biển?

Trả lời:

Đến nay, Việt Nam đã ký kết 5 Hiệp định và Thỏa thuận với các nước láng giềng có bờ biển liền kề hoặc kế cận. Đó là các nước Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan và Campuchia.

- Thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn Việt Nam .

Giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng chồng lấn thềm lục địa rộng khoảng 2.800 km2, đây là một khu vực có điện tích không lớn nhưng có tiềm năng về dầu khí. Ngày 05/6/1992, tại Kuala Lampur, hai bên đã ký Bản thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn. Thỏa thuận này có nội dung chính là xác định khu vực chồng lấn giữa thềm lục địa hai nước và xây đựng cơ chế hợp tác khai thác thăm dò dầu khí trong khu vực này.

- Hiệp định về phân định ranh giới trên biển Việt Nam  - Thái Lan

Việt Nam và Thái Lan trước đây còn có bất đồng trong việc phân định biên giới biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan. Bất đồng này đã được giải quyết ngày 9 tháng 8 năm 1997 bằng Hiệp định về biên giới biển Việt Nam - Thái Lan được ký kết ngày 9 tháng 8 năm 1997. Hiệp định này đã xác định đường biên giới biển đồng thời phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước.

- Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có vùng biển kế cận nhau. Trong lịch sử, hai bên có vấn đề tranh chấp chủ quyền một số đảo ven bờ và chưa tiến hành đàm phán phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngày 07/7/1982, hai bên đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của mỗi bên, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý; các hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán cũ.

- Hiệp đinh phân đinh Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có chung đường biên giới. Giữa hai nước tồn tại một số vấn đề biên giới cả trên đất liền lẫn trên biển đang trong quá trình giải quyết. Tiếp theo việc hai nước ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền năm 1999, trong năm 2000 hai nước cũng đã hoàn tất quá trình đàm phán kéo dài 27 năm từ năm 1974 và ký kết Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ. Nội dung chính của Hiệp định này là nhằm xác định dường biên giới lãnh hải và ranh giới đơn nhất cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

- Hiệp định phân định thềm lục địa giữa hai nước Việt  Nam- Indonesia

Trước khi tiến hành đàm phán phân định, giữa hai nước tồn tại một vùng chồng lấn khoảng 98.000 km2. Qua nhiều vòng đàm phán, vùng chồng lấn này đã dần được thu hẹp lại. Kết quả cuối cùng là việc ký kết Hiệp định ngày 26 tháng 6 năm 2003 đã thiết lập thành công đường ranh giới thềm lục địa Việt Nam - Indonesia.

 

Câu hỏi 19: Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam có vị trí, vai trò gì đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước?

Trả lời:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hai quần đảo san hô nằm giữa Biển Đông. Trên các bản đồ cổ của các nhà hàng hải phương Tây, hai quần đảo thường được xác định như một quần đảo đuy nhất có hình lá cờ đuôi nheo, nằm đọc theo bờ biển Việt Nam từ miền Trung tới miền Nam. Gầy đây, với sự phát triển của ngành hàng hải và đo đạc bản đồ biển, người ta đã nhận rõ hai quần đảo riêng biệt mang tên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hay Paracels và Spraly theo các bản đồ nước ngoài).

1. Quần đảo Hoàng Sa:

Quần đảo Hoàng Sa là một huyện thuộc thành phố Đà Nẵng. Quần đảo này nằm trong khoảng vĩ độ 15o45' đến 17o15’ Bắc, kinh độ 111o đến 113o Đông, trên đường vào Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn hơn 120 hải lý, cách hòn đảo ở gần đảo Hải Nam (Trung Quốc) nhất 140 hải lý. Quần đảo do trên 30 hòn đảo, đá, cồn san hô, bãi cát nằm rải rác trên một vùng biển rộng tử Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý hợp thành. Hoàng Sa chiếm một diện tích

biển khoảng 15.000 km2.

         Quần đảo Hoàng Sa được chia thành hai nhóm: nhóm phía Đông (thường gọi là nhóm Amphitrite theo tiếng Pháp) gồm 12 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hô lớn nhất là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn, rộng trên dưới 1,5 km2; nhóm phía Tây (hay còn gọi là nhóm Lưỡi Liềm) có các đảo như Hoàng Sa, Hữu Nhật... và một số cồn, vành đai san hô.

2. Quần đảo Trường Sa:

Huyện đảo Trường Sa, thuộc tỉnh Khánh Hòa nằm ở phía Đông - Nam của Việt Nam trong khoảng vĩ độ từ 6o50' đến 12o Bắc và kinh độ từ 111o30' đến 117o201 Đông với hơn một trăm đảo, đá cồn và bãi san hô nằm rải trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 350 hải lý và từ Bắc xuống Nam khoảng trên 360 hải lý. Quần đảo này chiếm khoảng 160 nghìn ki-lô-mét vuông biển. Hòn đảo gần đất liền nhất là đảo Trường Sa (nay là thị trấn Trường Sa) cách Vịnh Cam Ranh 250 hải lý, cách hòn đảo ở gần đảo Hải Nam nhất 600 hải lý và cách Đài Loan 900 hải lý. Đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa là đảo Ba Bình rộng khoảng 0,6 km2.

3. Tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường sa

Hai quần đảo có vị trí hết sức quan trọng đối với đất nước ta. Trước hết, hai quần đảo này nằm giữa Biển Đông, nơi có những tuyến đường hàng hải quan trọng nhất của thế giới đi qua. Ngoài ra, do vị trí nằm trải dài theo hướng bờ biển Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa là những vị trí tiền tiêu bảo vệ sườn Đông của đất nước, cũng như các vùng biển và bờ biển của Việt Nam. Về mặt kinh tế hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản phóng phú và đa dạng, đặt biệt là nguồn tài nguyên đầu khí.

 

Câu hỏi 20: Nhà nước nào đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước tiên?

Trả lời:

Theo nhiều tài liệu trong và ngoài nước (các bản đồ cổ, tài liệu về lịch sử, địa lý thời xưa, v.v...) thì Việt Namlà nước đầu tiên đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thời xưa hai quần đảo này thường được gọi chung dưới cái tên Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa, Đại Trường Sa.

Trong bản đồ Biển Đông (Sinensis Oceanus) của anh em nhà Van Lang ren người Hà Lan in năm 1595 cũng như bản đồ ''Inđiae Orientalis'' của nhà hàng hải Mecato in năm 1633, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện như một dải liền nhau, có hình lá cờ đuôi nheo nằm dọc theo hướng bờ biển miền Trung Việt Nam. Theo nhiều bản đồ Việt Nam thời xưa như Giáp Ngọ niên Bình Nam đồ vẽ năm 1774, Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ vào khoảng năm 1838, hai quần đảo này đều được thể hiện là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

Các sách địa lý cổ của Việt Nam như Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá biên soạn trong khoảng năm 1630 - 1635, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776 hay Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý do nhà Nguyễn biên soạn đều có những ghi chép rất rõ ràng về Trường Sa và Hoàng Sa hay Bãi Cát Vàng thời xưa. Bên cạnh đó nhiều sách về địa lý, hàng hải, v.v do các giáo sĩ hay những nhà thám hiểm phương Tây biên soạn thời xưa đều có nhắc đến hai quần đảo như một phần lãnh thổ của Vương quốc An Nam. Đó là những cuốn Hồi ký về nước Cochinchine của Chaigneau viết năm 1820, Ghi chép về Cochinchina do linh mục Taberđ biên soạn, hay Thế giới và Mô tả, mô tả các dân tộc: Nhật, Đông Dương, Xây-lan xuất bản năm 1850 của tác giả Jancigny,v.v.

 

Câu hỏi 21: Với tư cách là người làm chủ, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tiến hành khảo sát và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào?

Trả lời:

Những cuộc khảo sát và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cha ông ta đã được các tài liệu cổ ghi chép lại rất chi tiết.

Theo sách Đại Nam thực lục chính biên, bộ sử về nhà Nguyễn trong những năm 1821 - 1848, các vua triều Nguyễn là Gia Long và Minh Mệnh đã cử thủy quân đến hai quần đảo để tiến hành khảo sát, đo đạc vẽ bản đồ. Kết quả của những chuyến đi này cũng được các sách xưa ghi lai đầy đủ. Điều đáng ngạc nhiên là những đo đạc, tính toán của cha ông ta ngày xưa, khi mà khoa học - kỹ thuật chưa phát triển như bây giờ đều trùng khớp với nhưng số liệu bây giờ. Thời đó, Bãi Cát Vàng được mô tả là có khoảng trên 130 hòn đảo, ngày nay chúng ta đã xác định được quần đảo Hoàng Sa có khoảng trên 30 hòn đảo và quần đảo Trường Sa gồm khoảng 100 hòn.

Các sách xưa cũng ghi lai cách tổ chức, hoạt động của các đội Hoàng Sa được lập ra đước thời nhà Nguyễn với mục đích chuyên đi khai thác hai quần đảo. Ví dụ như theo Phủ biên tạp lục, họ nhà Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa, mỗi năm ra các đảo thuộc hai quần đảo để lấy hóa vật của các tàu bị đắm như gươm, bạc vụn tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng,. . .và kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột ốc hoa đem về nộp. Hay Đại Namthực lục tiền biên chép: ''Hồi đầu đựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào hàng năm đến tháng ba đi thuyền ra đảo, độ ba ngày ba đêm thì đến, thu lươm hóa vật đến tháng tám thì trở về nộp''.

 

Câu hỏi 22: Có bao nhiêu quốc gia và vùng lãnh thổ hiện đang tranh chấp chủ quyền hai quần dào Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam?

Trả lời: Đối với quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc là nước có tranh chấp với Việt Namvà đã chiếm đóng trái phép quần đảo này từ năm 1974. Với quần đảo Trường Sa, hiện có 5 nước, 6 bên tham gia tranh chấp. Ngoài Việt còn có Trung Quốc (và Đài Loan), , Philippine và tham gia tranh chấp.

Trung Quốc:Trung Quốc hiện đang chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần của quần đảo Trường Sa. Đài Loan, Trung Quốc hiện đang chiếm đóng đảo Ba Bình, đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa. Chính quyền Đài Loan cũng có yêu sách chủ quyền với toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Philipin:Philipin hiện đang chiếm giữ 8 hòn đảo trong quần đảo Trường Sa. Theo Sắc lệnh ngày 11 tháng 6 năm 1978 do tổng thống Marcos ban hành, Philipin coi toàn bộ quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa) là thuộc lãnh thổ của Philipin và đặt thành một đơn vị hành chính mang tên Kalayan thuộc tỉnh Palavan.

: là nước thể hiện yêu sách của mình muộn hơn cả. Năm 1982, Malaysiabắt đầu cho quân đội ra chiếm đảo Hoa Lau và đến nay họ đang chiếm đóng 5 đảo đá.

Bên cạnh đó, Vương quốc Brunei năm 1984 cũng thiết lập một vùng đánh cá bao gồm cả một bãi đá (Louisa Reef) nằm ở phía Nam quần đảo Trường Sa.

 

Câu hỏi 23: Vai trò và tiềm năng phát triển của kinh tế biển Việt Namnhư thế nào?

Trả lời:

Kinh tế biển Việt Namđã đóng góp một phần to lớn vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước những năm vừa qua. Hiện nay kinh tế biển Việt Nam đang tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực sau:

Dầu khí:Theo ước tính, trữ lương dầu khí ngoài khơi miền Nam Việt Nam có thể chiếm 25% trữ lượng dầu dưới đáy Biển Đông. Có thể khai thác từ 30-40 ngàn thùng/ngày (mỗithùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm. Trữ lương dầu khí đã thăm đò, khảo sát khoảng 3-4 tỷ m3 dầu quy đổi. Ngoài dầu lửa, vùng biển Việt Namcòn có tài nguyên khí đến với trữ lương khoảng ba nghìn tỷ m3/năm.

Hải sản:Nguồn tài nguyên hải sản của vùng biển nước ta vừa phong hú về chủng loại, vừa đồi dào về số lương. Biển Việt Nam tính đến nay có khoảng 2.040 loải cá với nhiều bộ, họ khác nhau với tổng trữ lương 3,5 triệu tấn/năm, bên cạnh đó chúng ta có khoảng trên 1.500 loại nhuyễn thể, riêng tôm đã có trên 100 loài. Ngoài ra chúng ta còn có rất nhiều loại chim biển như hải âu, hải yến, chim rẽ... Về tài nguyên thực vật biển, chúng ta có trên 600 loài rong biển, là những nguồn thức ăn có dinh dưỡng cao và nguồn dược liệu phong phú.

Vận tải biển các dịch vụ liên quan:nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, rất thuận tiện cho giao thông biển, Việt có tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực vận tải biển. Hiện tại, đội tàu Việt đang tham gia vận chuyển 16% tổng số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của quốc gia.

Cảng biển:cả nước có khoảng 90 cảng biển trong đó có 10 cảng hoạt động với công xuất thông quan trên 1 triệu tấn/năm.

Công nghiệp tàu biển:Đây là một ngành mũi nhọn của kinh tế biển. Những năm gần đây công nghiệp đóng tàu của Việt Namđang có nhiều khởi

sắc với sự gia tăng không ngừng của đơn đặt hàng trong và ngoài nước, cũng như của trọng tải các tàu được đóng. Chúng ta đã có thể đóng mới được nhiều loại tàu có trọng tải hàng vạn tấn.

Du lịch biển:Du lịch biển Việt Namđã và đang phát triển mạnh. Tuy nhiên du lịch biển vẫn chủ yếu tập trung vào dải ven bờ, các đảo và quần đảo hiện vẫn chưa được khai thác và đầu tư xứng đáng phục vụ nhu cầu phát triển du lịch. Băng Cháy, một dạng tài nguyên mới cũng đang được đánh giá

là giàu tiềm năng ở biển Đông.

 

Câu hỏi 24: Môi trường biển tác động như thế nào đến môi trường sống trên đất liền? Hãy nêu các nguồn chính gây ô nhiễm môi trường biển nước ta?

Trả lời:

Tuy chưa được xếp vào biển có mức độ ô nhiễm nghiêm trọng như biển Baltic hay Địa Trung Hải, nhưng vùng biển Việt Nam cũng được cảnh báo là có nguy cơ ô nhiễm cao trong tương lai. Hiện tại môi trường nước ven bờ đang bị ô nhiễm nặng và đã xuất hiện nhiều vùng nước chết. Sinh vật biển bị hủy diệt nặng nề, đã có hơn 70 loài hải sản được đưa vào sách đỏ Việt Nam và hơn 85 loài đang ở tình trạng nguy cấp ở các mức độ khác nhau.

Các nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển Việt Nam là: chất thải công nghiệp đổ ra từ các cửa sông, ô nhiễm hữu cơ do nuôi trồng hải sản, chất thải của tàu hoạt động trên các tuyến hàng hải quốc tế ngoài khơi Việt Nam, tràn dầu từ các hoạt động thăm dò, khai thác đầu khí trong nước và trong khu vực; ô nhiễm rác thải do hoạt động du lịch và dân cư ven biển.

 

Câu hỏi 25: Những quan diềm cơ bản được nêu trong Chiến lước Biển Việt Namđến năm 2020 là gì?

Trả lời:

- Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển,làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn đài hạn.

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa. Phát huy đầy đủ, có hiệu quả các nguồn lực bên trong, tranh thủ hợp tác quốc tế thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

 

Câu hỏi 26: Mục tiêu của Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 là gì?

Trả lời:

- Mục tiêu tổng quát:Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu, mạnh.

- Mục tiêu cụ thể:Xây dựng và phát triển toàn diện các lình vực kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vân đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển. Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lấn so với thu nhập bình quân chung của cả nước. Xây đựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh. Phát triển mạnh cả khai thác, chế biến sản phẩm từ biển và phát triển các ngành dịch vụ biển. Xây đựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây đựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển.

 

Câu hỏi 27: Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp gì để thúc đẩy kinh tế Biển Việt Nam phát triển?

Trả lời:

Chiến lước Biển Việt Nam đến năm 2020 đã được Hội nghị Trung ương lấn thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X thông qua. Đây là một trong những văn kiện hết sức quan trọng thể hiện sự quyết tâm xây đựng kinh tế biển Việt phát triển.

Mục đích của chiến lược là nhằm phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây đựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước. Từ những yêu cầu đó, cần phải thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như sau:

1- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đối với sự nghiệp xây đựng và bảo vệ Tổ quốc.

2- Xây dựng lực lượng mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh trên biển.

3- Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học - công nghệ biển.

4- Triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

5- Quản lý nhà nước có hiệu lực và hiện quả đối với các vấn đề liên quan đến biển.

6- Xây đựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển

7- Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hợi vùng biển và ven biển.

8- Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng kinh tế biển, đồng thời, bảo đảm tết nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

9- Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh là lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế biển với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế.

(Còn nữa)

Báo Đảng cộng sản





CÁC TIN KHÁC
  Xây dựng TCVN “Cá ngừ đại dương – kỹ thuật đảm bảo chất lượng trên tàu cá
  Những điều ngư dân cần biết trong hoạt động thuỷ sản(Kỳ 4)
  Những điều ngư dân cần biết trong hoạt động thuỷ sản (Kỳ 3)
  Những điều ngư dân cần biết trong hoạt động thủy sản (Kỳ 1)
  1. Tại sao ngư dân cần phải hiểu biết về các thông tin do các đài thông tin duyên hải Việt Nam cung cấp?
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang