Số lượt truy cập:   575416


ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ NHỎ VEN BỜ Ở VIỆT NAM
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 04/01/16-01:45:28


ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ NHỎ VEN BỜ Ở VIỆT NAM

Th.S Võ Thiên Lăng

Phó chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam

Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh khánh Hòa

 

ĐỒNG QUẢN LÝ

NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ CỦA NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM (Kỳ 1)

 

THỰC TRẠNG ĐƯA ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ TỪ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

Theo Dự án Nguồn lợi thủy ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD) thì khái niệm của đồng quản lý (ĐQL) như sau:

v ĐQL có thể hiểu là một thỏa thuận thiết lập quan hệ đối tác giữa cộng đồng ngư dân (những người sử dụng nguồn lợi địa phương), chính quyền và các bên cớ lợi ích liên quan khác (chủ tàu, thương lái, cơ sở đóng tàu, những người kinh doanh thủy sản…) nhằm chia sẻ trách nhiệm và quyền quản lý khai thác thủy sản.

v ĐQL là quá trình dựa trên sự đồng thuận của các bên nhằm công nhận các giá trị, nhu cầu, quan tâm và lợi ích của các bên khác nhau có liên quan đến quản lý nguồn lợi. Các quan hệ đối tác, vai trò và trách nhiệm của các bên được duy trì, củng cố và được điều chỉnh lại vào các thời điểm khác nhau trong quá trình ĐQL, phụ thuộc vào nhu cầu và các cơ hội, môi trường pháp lý, sự ủng hộ về mặt chính trị, năng lực và sự tin tưởng lẫn nhau của các bên. Quá trình ĐQL có thể bao gồm việc thành lập một cách chính thức/không chính thức các tổ chức của ngư dân và của các bên liên quan khác. ĐQL đòi hỏi phải có thỏa thuận chính thức/không chính thức giữa các bên tham gia để chia sẻ quyền lực và quyền quản lý nguồn lợi.

Đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ gồm 4 hợp phần chủ yếu bao gồm: (1) Quản lý nguồn lợi (Phục hồi, điều chỉnh, chính sách); (2) Phát triển cộng đồng (Tạo sinh kế, dịch vụ cộng đồng); (3) Tổ chức cộng đồng (tổ chức tự quản, bầu lãnh đạo, tham gia tự nguyện, chính quyền phân quyền cho tổ chức ngư dân);(4) Hỗ trợ thể chế (Cơ chế quản lý, mạng lưới cộng đồng, thiết kế các văn bản pháp quy).

CÁC MÔ HÌNH QLTCSCĐ/ĐQL NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ TỪ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

-  1995 – 2001: Quản lý nguồn lợi sinh học phá Tam Giang (Thừa Thiên – Huế): D/A do Trường ĐHNL két hợp với Trường ĐHKH và Sở Thuỷ sản Thừa Thiên Huế thực hiện do Trung tâm Phát triển Quốc tế (IDRC) tài trợ (1995 - 2001).

-  1998 – 2001: Sở Thủy sản Khánh Hòa triển khai 2 Đề tài NCKH: Thứ nhất, “Điều tra nghề cá nhỏ ven bờ tại đầm Nha Phu”; thứ hai “Quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ trên cơ sở cộng đồng tại các thôn biển của xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa” do Th.S Võ Thiên Lăng Giám đốc Sở làm chủ nhiệm Đề tài.

KẾT QUẢ THỰC HỊỆN CỦA ĐỀ TÀI

Thứ nhất: Khôi phục vẹm xanh ở đầm Nha Phu (tạo sinh kế), giải quyết các xung đột.

Thứ hai: Đề xuất quy trình đồng quản lý nghề cá nhỏ ven bờ ở Khánh Hòa.

-  1998 – 2002: Tăng cường quản lý thương mại cá rạn sống tại Việt Nam thông qua khai thác bền vững không mang tính hủy diệt của Liên minh Sinh vật Biển Quốc tế (IMA) tài trợ tại xã Vạn Hưng (Vạn Ninh) và sau này thành lập Khu bảo vệ sinh thái Rạn Trào cho đến nay do MCD - Trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng tài trợ.

-  2000 – 2004: Quản lý khu bảo tồn Hòn Mun (Nha Trang) của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) và Ngân hàng Thế giớí (WB) tài trợ.

-  2006 – 2012 ĐQL Việt Nam giai đoạn 2006 – 2012 do FSPSII (Đan Mạch) tài trợ, Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thực hiện. Dự án SCAFI – Hợp phần tăng cường quản lý khai thác thủy sản. Đây là dự án triển khai thí điểm rộng khắp cả nước ở nhiều địa hình, đa dạng sinh học.tănng qun ý khai áthy s. Đây l d in khai thí đi p c nước nhia hình, đa ng sinh hc

     KẾT QUẢ DỰ ÁN SCAFI

       - Mục tiêu: Tăng cường năng lực tổ chức hoạch định và thực thi các chính sách quản lý nghề cá bền vững ở cấp quốc gia và các địa phương.

       - Các đầu ra:    

       Đầu ra 1: Nâng cao năng lực cho Cục KT&BVNLTS, các Chi cục, Sở Nông nghiệp và PTNT để hoạch định và thực thi các chính sách, chiến lược, kế hoạch hành động;

       Đầu ra 2: Xây dựng cơ cấu tư vấn đa lĩnh vực cho quản lý hành động khai thác thủy sản (nghề cá biển và nghề cá nước ngọt) hoạt động tốt và góp phần đưa vào quy trình ra quyết định của Cục KT&BVNLTS, các Chi cục và Sở NN và PTNT;

       Đầu ra 3: Các mô hình của Việt Nam về ĐQL nghề cá thích ứng được xây dựng và áp dụng.     

8 MÔ HÌNH THỬ NGHIỆM ĐQL DO SCAFI TÀI TRỢ

MÔ HÌNH

DIỆN TÍCH (ha)

LOẠI HÌNH THỦY VỰC

TỔ CHỨC

NGUỒN LỢI

VẤN ĐỀ QUẢN LÝ

KẾT QUẢ

1) Quí Hương

(Sơn La)

300-600

Hồ chứa

Chi hội ĐQL

Nuôi cá nước ngọt

Khai thác hủy diệt

Chưa thành công

2) Đại Bình

    (Quảng Bình)

300-600

Bãi triều

Ban quản lý

Sá sùng, rươi

Tranh chấp; nguồn lợi giảm sút

Chưa thành công

3) Quỳnh Lập

    (Nghệ An)

13,3 (15km)

Ven biển

Ban quản lý

Hải sản

- nt -

Không đạt

4) Quảng Lợi

    (TT – Huế)

900

Đầm phá

Chi hội nghề cá

Bãi giống, RNM

- nt -

Thành công

5) Nhơn Trạch

   (Bình Định)

1.200

(16km)

Ven biển

Hội đồng liên thôn

Tồm giống, san hô, cỏ biển

Nguồn lợi giảm sút

Bước đầu có kết quả

6) Buôn Triết

    (Đắc Lắc)

129 -250

Hồ chứa

Chi hội nghề cá

Cá nước ngọt

Lợi ích

Thành công nhất

7) Bùng Binh 

 Thiên (An Giang)

200-600

Sông cụt, ao hồ

Chi họi

Cá mùa lũ S. Mêkông, nuôi cá lồng

Nguồn lợi giảm, ô nhiễm MT

Chưa đạt mục tiêu

8) Thanh Phong

    (Bến Tre)

550

Nghêu giống, RNM

2 HTX

Nghêu giống, RNM

Tranh chấp

Chưa thành công

 

 

v  KẾT LUẬN

Ø  Về mặt pháp lý, ĐQL liên quan đến việc chia sẻ quyền và trách nhiệm quản lý giữa chính quyền địa phương (tỉnh, huyện hoặc xã) với cộng đồng, vì vậy cần được pháp chế hóa và phân cấp phù hợp.

Ø  Về các nguồn lực cần đào tạo, phát triển nguồn lực chuyên trách về lĩnh vực này, đặc biệt đối với cán bộ ở cấp cơ sở và cộng đồng ngư dân.

Ø  Cần có sự điều chỉnh về nhận thức, cách tiếp cận thống nhất về phương thức quản lý có sự tham gia của cộng đồng trong nghề cá, trước hết đối với các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia các mô hình thí điểm áp dụng phương thức ĐQL.

Ø  Tiếp tục hỗ trợ thực hiện thí điểm mô hình quản lý với sự tham gia của cộng đồng ở các điểm đã lựa chọn.

Ø  Các nhà tài trợ nên hỗ trợ các phương tiện, vật chất cho các mô hình để tạo sinh kế, tạo thu nhập cho người dân.

v ĐÁNH GÍA TỔNG QUAN

Ø  Kết quả cho điểm đánh giá về các nội dung: mức độ ĐQL trong xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình, hiệu quả và tính bền vững của các mô hình cho thấy: Mô hình ở Bến Tre đạt 49 điểm, mô hình Rạn Trào của MCD đạt 48 điểm là 2 mô hình ĐQL tốt nhất, mô hình của Sở Thủy sản Khánh Hòa 39,5 điểm đạt ĐQL

Ø  Mức độ thành công ĐQL còn thấp.

Ø  Trên cơ sở nghiên cứu khá bài bản mô hình của Sở Thủy sản Khánh Hòa đã đề xuất được quy trình ĐQL, bước đầu nghiên cứu tổ chức làng xã Việt Nam để có phương pháp Việt Nam hóa ĐQL nước ngoài trong điều kiện Việt Nam.

Ø  Tổ chức của ngư dân làm cầu nối giữa chính quyền và ngư dân là Hội Nghề cá thành công nhất là mô hình ở Thừa Thiên Huế.

Ø  Có thể đánh giá một cách khiêm tốn thì hầu như tất cả các dự án Đồng quản lý nghề cá quy nhỏ ở Việt Nam chưa có cái nào thành công theo đúng nghĩa kể cả lý thuyết lẫn thực tiễn về việc thiết lập cơ chế tự quản và thiết chế quản lý nghề cá quy mô nhỏ. Mà đấy chính là cái cốt lõi của sư thành công của ĐQL nói chung, trong đó có ĐQL nghề cá quy mô nhỏ.

Kỳ 2: Nghiên cứu thiết chế quản lý và cơ chế tự quản làng xã truyền thống và đương đại ở Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1) Quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ TCSCĐ tại các thôn biển của xã Ninh Ích h. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Th.S Võ Thiên Lăng, năm 2001.

2) Đồng quản lý nghề cá Sổ tay Thực hành R.S. Romeroy and R. Rivera-Guieb.

3) Đánh giá tổng quan các mô hình ĐQL trong ngành thủy sản đã triển khai ở Việt Nam-Chương trình hỗ trợ ngành Thủy sản giai đoạn II (FSPSII)- Hợp phần tăng cường quản lý khai thác thủy sản (SCAFI), Cục KT&BVNLTS, tháng 10/2009.

4) Bài học kinh nghiệm từ các mô hình ĐQL do FSPS II/SCAFI hỗ trợ trợ giai đoạn 2006 – 2012, Nguyễn Phú Quốc, PGĐ Hợp phần SCAFI, Phó Chánh Văn phòng Cục KT&BVNLTS

5) Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD), Bộ NN&PTNT, tháng 03/2012.

6) Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD), Hà Nội tháng 03 năm 2013.

NGHIÊN CỨU THIẾT CHẾ QUẢN LÝ VÀ CƠ CHẾ TỰ QUẢN LÀNG XÃ TRUYỀN THỐNG VÀ ĐƯƠNG ĐẠI Ở VIỆT NAM (Kỳ 2)

Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu:

       1. Trong 4 hợp phần của Đồng quản lý (ĐQL) nghề cá quy mô nhỏ thì hợp phần Tổ chức cộng đồng là quan trọng nhất. Tại sao các dự án ĐQL do tài trợ của nước ngoài đưa vào Việt Nam đạt mức độ thành công thấp?

       2. Làng xã Việt Nam (trong đó có làng cá) trãi qua nhiều biến động làng không còn là đơn vị hành chính. Xã gồm nhiều làng (gọi là thôn) mới là đơn vị hành chính. Các xã ven biển và các thôn ven biển không thuần ngư. Vậy cơ chế tự quản sẽ được xác định ở thôn hay xã? Vấn đề đặt ra của dự án CRSD là xây dựng thiết chế và cơ chế tự quản của xâ chọn làm thí điểm, vậy làm thế nào để để đưa vào cuộc sống làng xã Việt Nam đương đại?. .

       3. Phương pháp nghiên cứu: Phân tích – diễn dịch từ cái chung -> cái riêng

      Cơ chế tự quản và thiết chế quản lý làng xã truyền thống và đương đại ở Việt Nam như thế nào? Cần nghiên cứu một cách nghiêm túc để kế thừa và áp dụng đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ của nước ngoài vào Việt Nam một cách có hiệu quả và phát triển bền vững.

ĐẶC TRƯNG CỦA LÀNG TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM

- Cư trú thành làng là một đặc trưng kinh tế, chính trị, văn hóa của người Việt. Do điều kiện tự nhiên đất đai màu mỡ, dân số chưa đông, người Việt có thể khai khẩn bất cứ chỗ nào thuận tiện xung quanh đủ ruộng cấy lúa và nơi cư trú là thành làng. Nơi cư trú ấy của cộng đồng làng thường được bao bọc bởi lũy tre, trong đó được chia thành xóm ngõ.Trong cái không gian bé nhỏ đó, có đường làng ngõ xóm để mọi người dùng chung, có giếng làng để mọi người lấy nước sinh hoạt, có đình làng vừa là nơi thờ thành hoàng, vừa là nơi hội họp. Không gian kinh tế - xã hội, văn hóa thiêng liêng ấy là yếu tố gắn kết mọi người chung một làng.

- Qua hàng ngàn năm, do điều kiện đặc thù của lịch sử quy định, làng Việt Nam tồn tại như những đơn vị độc lập tương đối. Tính độc lập và khép kín được xác định bởi những lũy tre xanh bao bọc như những tường thành ngăn cách và bằng cả một hệ thống thiết chế, tập tục của từng làng.

           + Về mặt kinh tế, đó là những thể thức phân chia và sử dụng công điền, công thổ, sử dụng nguồn nước của làng.       

           + Về mặt chính trị - xã hội mỗi làng đều có những quy ước quy định các vị trí đẳng cấp xã hội, cả quyền lợi và nghĩa vụ, là sự tồn tại và thực hiện chức năng xã hội của các hội, các phường được thiết lập trong làng.          

           + Về mặt văn hóa, đó là các hình thức hội hè, tập tục, lễ cưới, lễ tang, lễ khao vọng, lễ hội cầu ngư... và gắn với văn hóa tôn giáo, là tín ngưỡng thành hoàng với "Lệnh làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ". Sự khác nhau giữa các làng đã hình thành nên cái mà các nhà nghiên cứu văn hóa gọi là “LÀNG TA”.

-  Làng là đơn vị kinh tế tự túc, tự cấp.

VỀ VẤN ĐỀ TỰ QUẢN VÀ THIẾT CHẾ QUẢN LÝ LÀNG XÃ TRUYỀN THỐNG

      I. Thời phong kiến  

      - Theo GS. Bùi Xuân Đính, làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức riêng, lệ tục riêng…nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất.

      - Trần Từ vào năm 1984 đã công bố công trình nghiên cứu về “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ“. Đây được coi là công trình hoàn chỉnh (ít ra cho đến thời điểm này) nghiên cứu một cách toàn diện cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền của người Việt ở Bắc Bộ và các công trình nghiên cứu về cơ cấu làng Việt Bắc Bộ đều khẳng định có sự hiện diện của các tổ chức phi quan phương bên cạnh các tổ chức quan phương. Mỗi làng xã có hai cơ quan quản lý. Đó là:

      - Hội đồng lý dịch (Hương chức): Tổ chức quan phương (hay bộ máy quản lý làng) do Nhà nước trung ương tập quyền áp đặt lên các làng, theo những quy định chung. Và bộ máy tổ chức này về cơ bản có sự thống nhất của toàn bộ vùng đồng bắng Bắc Bộ xét trên phương diện tổ chức cũng như chức năng nhiệm vụ. Đứng đầu là các xã quan (xã trưởng, sau này là các lý dịch: lý trưởng, phó lý, hương thân, hương hào, khán thủ, hương trưởng). Thông qua các tổ chức quan phương Nhà nước thể hiện quyền lực đến các công dân của mình trong việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Hội đồng lý dịch chỉ đóng vai  trò là bộ phận trung gian giữa làng xã và nhà nước. Lý trưởng phải giữ các công văn địa bạ, các sở thuế của làng và các lệnh truyền của Chính phủ

     -  Hội đồng kỳ mục (Hương hội): Tổ chức phi quan phương không nằm trong hệ thống của bộ máy hành chính, nó ẩn tàng trong các làng Việt và vận hành theo những nét rất riêng của từng loại tổ chức. Hoạt động của các tổ chức phi quan phương tạo nên sự kết dính giữa các thành viên trong tổ chức của mình. Hội đồng kỳ mục có tính tự trị, tự quản cao hơn, chi phối cả hội đồng lý dịch.

      Như vậy, tổ chức hành chánh trong làng xã: thay đổi tùy theo thời đại và tùy theo địa phương, nhưng đại để có một Hương Hội  (Bắc gọi là Hương Hội, Trung là Hội Đồng Kỳ Hào hay Kỳ Mục, Nam là Hội Tề), và một Lý Trưởng hay Xã Trưởng trông coi mọi việc.
     Thường thì Hương Hội lo điều hành việc làng và Lý Trưởng (Xã Trưởng) là người liên lạc với chính quyền từ cấp hàng Tổng trở lên.
      Hương Hội do dân làng bầu ra, đứng đầu là Tiên Chỉ, còn gọi là Chánh Hương Hội (trong Nam gọi là Hương Cả). Tiên chỉ là người đứng đầu trong giấy tờ. Người đứng thứ hai là Thứ Chỉ. Đối với những làng đã cải lương rồi, tổ chức hương hội giống nhau: gồm một chánh hương hội, một phó hương hội, một thư ký và một thủ quĩ.
      Lý Trưởng (Nam: Xã Trưởng) cũng do dân làng bầu ra, đứng đầu Hương Chức làm môi giới cho dân và quan trên. Trương Tuần (miền Bắc) hay Hương Kiểm (miền Trung) hay Hương Hào (miền Nam) là người coi việc tuần phòng, an ninh trong làng xã. Mõ làng truyền
đạt tin tức đến dân làng.
      Tại làng xã Bắc bộ, Trung bộ, Nhà nước quản lý đến làng, còn làng trực tiếp quản lý đến từng người dân theo cơ chế tự quản thông qua Hương ước. Hầu hết các làng Việt Bắc Bộ đều có hương ước. Làng nào có hương ước ấy, tùy truyền thống của từng làng mà hương ước đề cập đến những vấn đề cụ thể. Tuy nhiên, nội dung của hương ước của các làng lại có nội dung tương đối giống nhau. Vì hương ước không phải là bộ luật chung cho các làng, nên hình thức thể hiện những vấn đề cần đề cập tới của từng làng cũng khác nhau (Xem sơ đồ tổ chức một làng xã truyền thống).

           - Các tổ chức phi quan phương:

          Từng làng dù thuộc loại hình kinh tế, môi trường cảnh quan nào cũng đều có một cơ cấu tổ chức riêng theo một khuôn mẫu chung, tức gồm các thiết chế tổ chức theo các nguyên tắc tập hợp người: theo địa vực cư trú (xóm ngõ), theo quan hệ huyết thống (dòng họ), theo lớp tuổi kết hợp với quan hệ huyết thống và địa vực (giáp), theo nghề nghiệp hoặc sở nguyện, chí hướng (các phường, hội, phe…) cùng một hội đồng quản lý làng (kỳ mục)         

+ Dòng họ: Dòng họ là một thiết chế xã hội, ngày nay vẫn đang tồn tại khá bền vững. Bằng các hoạt động thờ cúng tổ tiên (giỗ họ), lập gia phả, tu bổ nhà thờ, dòng họ vẫn có một sự cố kết nội tại không phải do những quy tắc rõ ràng, những luật phép thành văn mà do những mối liên hệ sâu xa hơn, đó là huyết thống, mặc dù đã có sự xâm nhập của yếu tố kinh tế thị trường vào cộng đồng làng xã.

           + Phường hội: Phường là tổ chức nghề nghiệp của những người làm nghề thủ công và buôn bán. Mà ở nước ta chủ yếu là của nông dân làm thêm các nghề thủ công hay buôn bán. Trên miền Bắc, những làng lớn có kinh tế phát triển thì hầu như đều có phường. Có làng có đến hàng chục phường. Phường thủ công  hay buôn bán đều có  những quy định cụ thể gọi là phường lệ để ràng buộc người cùng nghề, ổn định sản xuất, chống cạnh tranh.

          + Giáp là hội tổ chức theo giới tính (nam ), theo chức nghiệp và theo lứa tuổi.

          + Hội Tư văn là của các đồ Nho có chữ Hán, trong thời Pháp thuộc có nơi kết nạp thêm người học chữ Tây. Sự ràng buộc các hội này không chặt chẽ bằng phường, họ.

- Hương ước là công cụ quản lý làng xã truyền thống Việt Nam

Tập thể cư dân trong mỗi cộng đồng sinh sống lâu dài trong một địa vực, có những mối liên hệ với nhau trong đời sống sản xuất và xã hội, trong cuộc đấu tranh thường nhật với thiên tai và địch họa, đều muốn xây dựng những mối quan hệ ổn định, hòa thuận, một lối sống có kỷ cương, trật tự. Nhu cầu ấy đòi hỏi phải có những quy ước, những thỏa thuận ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa cá thể với cộng đồng làng xã.

Lịch sử ra đời và tồn tại của hương ước cho thấy rằng, hương ước luôn giữ vị trí quan trọng trong việc ổn định cuộc sống ở thôn làng, là công cụ đắc lực để Nhà nước điều chỉnh và quản lý làng xã.      

Vai trò của Hương ước xưa

Trong suốt chiều dài của lịch sử xã hội phong kiến hương ước luôn giữ vị trí quan trọng trong việc ổn định cuộc sống của dân làng, là công cụ đắc lực để Nhà nước điều chỉnh và quản lý làng xã. Hương ước xưa đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống làng xã Việt Nam. Vai trò ấy có thể khái quát trên các bình diện sau:

n  Tổ chức và quản lý các mặt của đời sống làng xã, duy trì trật tự, kỷ cương, tạo ra môi trường ổn định và an toàn cho cả cộng đồng làng xã

n  Tổ chức và quản lý các mặt của đời sống làng xã, duy trì trật tự, kỷ cương, tạo ra môi trường ổn định và an toàn cho cả cộng đồng làng xã

n  Nuôi dưỡng, vun đắp ý thức cộng đồng, tinh thần bất khuất, tinh thần tự chủ, tự lực cho mỗi thành viên và toàn bộ cộng đồng làng xã.

n  Tạo lập một cuộc sống dân chủ, gần con người với tự nhiên, gần cá nhân với cộng đồng

n  Duy trì và phát huy thuần phong, mỹ tục và truyền thống văn hoá cộng đồng, củng       cố các giá trị đạo lý và nhân bản.

n  Củng cố, tăng cường sự đoàn kết, gắn bó tương thân, tương ái trong mỗi gia đình,    

            dòng họ và trong toàn bộ cộng đồng g

n  Xây dựng ý thức cộng đồng làng xã, gắn ý thức cộng đồng làng xã với ý thức quốc      

            gia

          Một bản Hương ước cũ bao gồm các nội dung sau:

Ø  Nội dung thứ nhất, hương ước khẳng định ranh giới lãnh thổ của làng và cơ cấu tổ chức, quan hệ trong làng xã. Mặc dù sắp xếp trước sau có thể có sự khác nhau, song một trong những mục mà các bản hương ước đều đề cập tới đó là mục chính trị, trong đó nội dung chủ yếu liên quan đến thiết chế chính trị, cơ cấu tổ chức và các quan hệ xă hội trong làng.

Ø  Nội dung thứ hai của hương ước là những quy ước bảo vệ an ninh làng xã.

Ý thức bảo vệ đời sống cộng đồng được thể hiện ở việc giữ gìn trị an thôn xóm và gắn liền với việc tổ chức vũ trang bảo vệ làng xã. Đây là vấn đề sống còn và thường xuyên của từng làng được quy định tỉ mỉ trong các bản hương ước (chế độ thù lao, trách nhiệm, khen thưởng).

Ø  Nội dung thứ ba của hương ước là những quy ước liên quan đến sản xuất và bảo vệ môi trường.

Ø  Nội dung thứ tư: Những quy ước về văn hóa giáo dục, tín ngưỡng và phong tục tập quán của làng. Mỗi làng Việt là một cơ cấu kinh tế khép kín mang tính "nửa tự trị". Nét khác biệt giữa các làng được đặc trưng bởi những nét văn hóa riêng, các tục hèm, lệ thờ thành hoàng: mỗi làng tôn một vị thần làm "thành hoàng" được thờ ở đình, đình được xây dựng ở nơi tốt nhất về phong thủy.

Ø  Để đảm bảo hiệu lực của lệ làng, làng xã dùng các biện pháp thưởng phạt theo "lệ" nhưng khá nghiêm ngặt nhất là "lệ" thành văn thể hiện ở hương ước, khoán ước.

 

            - Việc khen thưởng phổ biến các làng thường áp dụng là thưởng tiền hay hiện vật, nhưng cũng có thể là tăng thêm ngôi vị, thứ bậc trong làng hoặc được giảm một số nghĩa vụ phải đóng góp. Ngoài việc khen thưởng, làng xã còn có các khoản bồi thường cho những người bị thiệt hại trong khi làm nhiệm vụ, được trợ cấp thương tật hay tiền tuất.

            - Các hình thức xử phạt cũng rất đa dạng, từ việc tẩy chay "không thèm ngồi", đến phạt tiền hoặc hiện vật, bị hạ vị ngôi thứ, thậm chí bị đuổi khỏi làng

            - Ngoài việc trừng phạt, thực hiện một cách có tổ chức, làng xã còn một tòa án vô hình nhưng hữu hiệu và công bằng đó là dư luận. Dư luận của làng xã không tha thứ một ai.

II. Thời Pháp thuộc:

Từ khi thực dân Pháp xâm lược đặt ách thống trị lên đất nước ta thì kiểu “dân chủ làng xã” đã bị thu hẹp dần, quyền lực của Nhà nước ở mỗi làng ngày một sâu hơn, rộng hơn. Nhưng lệ làng vẫn tồn tại, vì thế cái phong phú, cái riêng có của lệ làng so với phép nước đã trở thành cái bền vững trong lịch sử.

Cải tổ 1921

Sang thời Pháp thuộc thì làng xã Việt Nam vẫn hoạt động không mấy thay đổi nhưng đến năm 1921 người Pháp bãi bỏ Hội đồng kỳ dịch và thay thế vào đó là Hội đồng tộc biểu, còn gọi là Hội đồng hương chính. Với sự cải tổ này chính quyền muốn áp dụng một khía cạnh dân chủ bằng cách cho dân đinh 18 tuổi trở lên đi bầu bỏ phiếu cho những đại biểu thành viên trong Hội đồng. Ứng cử viên tối thiểu phải 25 tuổi và sở hữu tài sản trong làng. Mỗi làng được có tối đa 20 đại biểu đại diện cho những gia tộc trong làng.

Đại biểu trong Hội đồng hương chính sẽ chọn một người làm chánh hương hội và một người làm phó hương hội, thay thế cho tiên chỉ và thứ chỉ trước kia. Ngoài ra còn có những hương chức khác như phó lý, thư ký thủ quỹ. Hội đồng hương chính áp dụng được 6 năm, đến năm 1927 thì phải bỏ vì sự phản đối của dân quê vốn ủng hộ lệ làng cổ truyền. Người Pháp phải thích ứng bằng cách cho lập lại Hội đồng kỳ mục để cùng điều hành việc làng với hội đồng hương chính. Theo đó thì số kỳ mục không hạn chế và nhiệm kỳ cũng không hạn định.

Cải tổ 1941

Năm 1941 cả hai hội đồng kỳ mục và hội đồng hương chính bị bãi bỏ và một hội đồng duy nhất được lập ra: Hội đồng kỳ hào. Cơ quan này giống như hội đồng kỳ dịch cũ nhưng việc quản lý thì giao cho Ủy ban quản trị chỉ có bảy thành viên. Cơ quan chấp hành vẫn là lý trưởng, phó lý, trưởng bạ (trông coi sổ sách điền bộ), hộ lại (trông coi giấy tờ sinh, tử, giá thú), thủ quỹ, và trương tuần. Tuy nhiên, thay vì theo truyền thống thì lý trưởng do dân làng bầu ra, lý trưởng và những hương chức chấp hành kể từ năm 1941 là do hội đồng kỳ hào quyết đoán cả nên tính cách dân chủ cổ truyền đã mất đi.

Làng xã thời Quốc gia Việt Nam

Hội đồng kỳ hào sau thời Pháp thuộc ở phía nam vĩ tuyến 17 thuộc Quốc gia Việt Nam có những cải tổ sau đây. Thứ nhất là tên gọi được đổi lại thành Hội đồng hương chánh. Đứng đầu hội đồng hương chánh là chủ tịch và phó chủ tịch thêm tổng thơ ký giúp việc. Thành viên hội đồng là ủy viên. Mỗi ủy viên kiêm thêm một đặc vụ.

Làng nhỏ thì chỉ có hai ủy viên y tế và ủy viên giáo dục. Làng lớn thì có thể có đến chín ủy viên cả thảy tức hai ủy viên vừa kể trên và thêm hộ tịch, cảnh sát, tài chánh, thuế vụ, công chánh, kinh tế, và canh nông.

III. Sau cách mạng Tháng 8 đến nay:

KHÔI PHỤC HƯƠNG ƯỚC

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau 1954, cơ cấu tổ chức làng xã phong kiến bị bãi bỏ, hương ước không còn cơ sở để tồn tại trong các làng đang được cải tạo theo mô hình chính quyền địa phương kiểu mới trong đó cấp cơ sở là xã bao gồm nhiều làng chứ không phổ biến một làng như trước. Bộ máy chính quyền mới và hệ thống pháp luật XHCN đã ra đời thay thế hầu như toàn bộ các quy định của “lệ làng” trong quản lý xã hội nông thôn. Tiếp đó, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung bao cấp với các hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể kinh tế ở nông thôn làm cho làng mất dần vị trí và vai trò quan trọng của nó trong quản lý xã hội và bảo tồn các giá trị văn hóa ở nông thôn, càng làm cho các kiểu lệ làng biến sâu vào ngăn tủ. Tuy vậy, cũng phải thấy rằng hương ước không biến mất hoàn toàn mà nhiều nội dung của nó vẫn được duy trì bằng cách chuyển hóa và bảo tổn dưới các dạng nét văn hóa truyền thống, các sinh hoạt cộng đồng và các phong tục tập quán lành mạnh trong nhân dân.
Từ cuối những năm 80 đầu những năm 90, khi nông thôn Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới với việc giao khoán ruộng đất cho các hộ gia đình sử dụng ổn định và lâu dài (Nghị quyết 10), thì việc quản lý kinh tế-xã hội ở các thôn làng cũng bắt đầu chuyển đổi.Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị: Thay cho phương thức quản lý HTX nông nghiệp theo cơ chế kế hoạch hóa, tập thể hóa là phương thức quản lý mới theo cơ chế thị trường tạo ra khả năng để người nông dân tự chủ sản xuất và sử dụng đất đai.

Hộ gia đình không còn là “biến số” phụ thuộc vào HTX nông nghiệp như trước mà được trở lại là đơn vị kinh tế tự chủ, trở thành tác nhân quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn. Cùng với sự thay đổi vị trí của hộ gia đình, vị trí và vai trò quản lý kinh tế xã hội của làng thôn cũ – với tính cách là cộng đồng dân cư gắn kết truyền thống có thiết chế tổ chức riêng, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, tính cách riêng của xã hội – đã dần dần được khẳng định trở lại. Các mặt tích cực trong hoạt động thôn làng như các thiết chế dân chủ hóa và văn hóa truyền thống, tín ngưỡng được đẩy mạnh, nhưng đồng thời các yếu tố tiêu cực như tranh chấp đất đai, thói gia trưởng dòng họ, các loại tệ nạn… cũng được dịp trỗi dậy. Pháp luật của Nhà nước lúc này không đủ và cũng không thể đủ để điều chỉnh các quan hệ trong một cộng đồng vốn rất đa dạng và phong phú hơn thời bao cấp. Công cụ hương ước – một hình thức bổ sung cho pháp luật, đáp ứng nhu cầu và cách thức quản lý mới ở thôn, bản – đến lúc này bắt đầu có điều kiện phục hồi trở lại và phát huy tác dụng.
Sự phục hồi của hương ước lúc đầu mang tính tự phát. Khi vai trò của làng, thôn truyền thống (khi đó còn gọi là xóm) được tái lập thì xã – với quy mô lớn, đội ngũ cán bộ còn yếu cũng như hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, chưa cụ thể, khó áp dụng – đã gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý, hầu như không thể với tới các làng, thôn; còn các làng, thôn thì lại thiếu công cụ để quản lý. Trước tình hình đó, nhiều làng ở đồng bằng Bắc Bộ đã tự soạn thảo ra các quy ước làng để làm “cơ sở pháp lý” cho việc quản lý, điều chỉnh các sinh hoạt của cộng đồng làng, thôn. Những nơi làm sớm việc này là Hà Bắc, Hà Tây, Thái Bình… rồi sau phát triển sang các địa phương khác.
Chính sự khác biệt giữa lệ làng và luật nước đă phản ánh tính chất dân chủ, tính tự quản của làng xă.

- Kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: “Làng văn hoá Thanh Hoá” mang ký hiệu KX 01 - 15 do Trung tâm khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia thực hiện đã khẳng định: làng là mô hình tổ chức quản lý các hoạt động văn hoá, xã hội ở nông thôn phù hợp với giai đoạn chuyển biến sâu sắc của đất nước. Đây là đơn vị cộng đồng dân cư có tính ổn định tương đối về thiết chế tổ chức và các mối quan hệ xã hội. Làng (thôn, ấp, bản...) còn là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống đã được thử thách qua nhiều thời kỳ lịch sử, thể hiện bản sắc và bản lĩnh riêng của nền văn hoá Việt Nam. Các giá trị văn hoá của làng (thôn, ấp, bản...) là cơ sở cho việc tổ chức xây dựng làng (thôn, ấp, bản...) văn hoá.

- Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khoá VII) ngày 10/6/1993 về Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn đã đề ra nhiệm vụ: “Phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp, thuần phong mỹ tục, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, phát huy tình làng nghĩa xóm, khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước về nếp sống văn minh thôn, xã”.

- Ngày 19 tháng 6 năm 1998 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 24 về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước làng bản thôn, ấp, cụm dân cư.

- Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/05/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và Chỉ thị số 24/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện Hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư ngày 19/06/1998 đã quy định rõ rằng dự thảo Hương ước sau khi được nhân dân, hội nghị cử tri hay hội nghị đại biểu hộ gia đình thông qua, thì cần phải được Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thi hành nhằm đảm bảo nội dung của Hương ước không trái với các quy định của pháp luật hiện hành hay các quy định xử phạt nặng nề, các khoản phí, lệ phí có thể gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

- Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/10/2000 đã xác định Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư,góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật. Như vậy, Hương ước ngày nay và trước đây đã xuất hiện một số điểm thiếu đồng nhất, tuy nhiên, nội dung và vai trò của Hương ước làng xã trong đời sống người dân Việt Nam ta về cơ bản vẫn không hề thay đổi.

- Năm 1998, triển khai “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng làng văn hóa”. Hương ước mới (Chỉ thị 24/1998) và Quy chế dân chủ cơ sở (thôn, làng, ấp…) Nghị định 29/1998 của Chính phủ – Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra ra đời. Xây dựng Làng văn hóa, gia đình văn hóa trở thành phong trào rộng khắp cả nước. Hương ước điều chỉnh giữa công chúng với công chúng, còn Quy chế dân chủ là để điều chỉnh giữa chính quyền với công chúng. 

Nội dung tư tưởng chính của hương ước mới

           Nội dung các bản hương uớc mới (Quy ước làng văn hóa), có thể thấy cấu trúc của nó, ngoài phần mở đầu và kết luận, văn bản được chia thành các chương (hoặc các phần).

Ø  Chương 1: Nguyên tắc chung.

Ø  Chương 2: Các quy định về lễ nghi, tôn giáo (chủ yếu là quy định về lễ hội).

Ø  Chương 3: Quy định về nếp sống văn hoá nói chung (chủ yếu là xây dựng Gia đình văn hoá, việc cưới, việc tang).

Ø  Chương 4:  Đạo lý gia đình và xã hội.

Ø  Chương 5: An ninh trật tự, bảo vệ môi trường.

Ø  Cuối  cùng là Điều khoản thi hành.

Ø  Một số bản Quy ước làng văn hóa chỉ chia thành 3 phần lớn, đó là: Nguyên tắc chung, Những quy định cụ thể, Điều khoản thi hành.

Ø    Nguyên tắc chung nêu khái quát tình hình lịch sử, quá trình hình thành, truyền thống văn hoá, cách mạng của địa phương, tình hình hiện tại, những thuân lợi, khó khăn trong xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời nêu nguyên tắc chung khi soạn thảo, giá trị pháp lý và phạm vi hiệu lực của văn bản.

Ø   Những quy định cụ thể: Là quy định về xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng nếp sống văn hoá trong các sinh hoạt hàng ngày, giữ gìn trật tự an ninh, quy định về ngày lễ, ngày giỗ, ngày hội, việc cưới, việc tang, về bảo vệ và phát triển sản xuất, bảo vệ các công trình công cộng, vệ sinh môi trường và các quy định khác (về khuyến học, khuyến nông…).

Ø  Về điều khoản thi hành:  Việc theo dõi thi hành quy ước của các thôn làng thường giao cho trưởng thôn, trưởng làng chịu trách nhiệm cùng với sự phối hợp với các đoàn thể của địa phương. Các hoạt động diễn ra đều có sự chỉ đạo của cấp uỷ đảng địa phương, sự theo dõi, quản lí của chính quyền.

Quy chế dân chủ ở cơ sở (Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ V/v Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã)

MÔ HÌNH HÓA QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở XÃ

 

 Đánh giá thực hiện hương ước, quy ước trong xã hội đương đại

       ۞ Mặt làm được:

Ø  Vai trò quan trọng của hương ước, quy ước trong việc đảm bảo an ninh trật tự ở các thôn, làng, tổ dân phố, khu dân cư, nên cùng với việc thực thi pháp luật thì đã có trên 90% thôn làng, tổ dân phố, khu dân cư xây dựng hương ước, quy ước.

Ø  Qua hơn 10 năm thực hiện hương ước, quy ước cho thấy nếp sống văn minh, truyền thống văn hóa, các phong trào, các cuộc vận động… đều được phát huy tốt ở các địa bàn dân cư, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đến đời sống văn hóa xã hội, những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân được phát hiện và giải quyết kịp thời, góp phần quan trọng trong việc củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

       ۞  Mặt tồn tại và nguyên nhân:

Ø  Quá trình xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: tên gọi và đối tượng điều chỉnh còn lẫn lộn, chủ thể ban hành hương ước, quy ước chưa đúng quy định, phần nhiều lẫn lộn với quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở….Nên lồng ghép Quy chế dân chủ ở cơ sở vào hương ước.

Ø  Nguyên nhân: điển hình như quy định của Thông tư liên tịch 03 quy định việc xây dựng hương ước phải qua rất nhiều bước và công đoạn cuối cùng là phê duyệt. Quy trình này tốn rất nhiều thời gian, nên đôi khi hương ước được phê duyệt thì nội dung đã không còn phù hợp, cần phải sửa đổi. Hoặc trong quy định về kết cấu của hương ước, nội dung hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản, điểm. Điều này vô hình chung đã biến các hương ước trở thành một văn bản luật, dài dòng, nhiều điều khoản, không đáp ứng được tiêu chí ngắn gọn, cụ thể, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện….

 

 VỀ VẤN ĐỀ TỰ QUẢN VÀ THIẾT CHẾ QUẢN LÝ LÀNG XÃ THỜI ĐƯƠNG ĐẠI

        
v VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ VẬN HÀNH CỦA LÀNG XÃ (CẤP THÔN)
 
Nhà nước quản lý đến thôn (làng) thông qua Bí thư cấp ủy thôn và Trưởng thôn (Thiết chế quan phương).  

         @ Mỗi thôn đều có Chi bộ Đảng lãnh đạo toàn diện thôn. Đảng viên Chi bộ bầu cấp ủy thôn từ 4 - 5 người, trong đó, có 1 Bí thư và 1 - 2 Phó Bí thư thôn. Chi bộ thôn trực thuộc Đảng bộ xã (phường). Chi bộ thôn hoạt động theo Điều lệ Đảng. Cấp ủy thôn là các bộ hưu trí. Bí thư và các Phó Bí thư hưởng phụ cấp hàng tháng của nhà nước.

         @ Trưởng thôn là người thay măt cho chính quyền địa phương (Nhà nước) quản lý thôn, do dân bầu. Bí thư thôn lãnh đạo toàn diện các công việc của thôn song song với thôn trưởng. Thôn trưởng thường là đảng viên trong Chi bộ thường xuyên hội ý và báo cáo mọi công việc cho Bi thư thôn chỉ đạo. Những công việc phức tạp đưa ra tập thể cấp ủy bàn bạc đi đến thống nhất và chỉ đạo Thôn trưởng thực hiện. Tình hình của thôn về mặt hành chính Trưởng thôn báo cáo về UBND xã (phường) theo kênh hành chính (giao ban hàng tháng), về mặt Đảng Bí thư báo cáo về Đảng ủy xã (giao ban hàng tháng). Thôn trưởng và một số chức danh của thôn như: Phụ nữ, Mặt trận, tổ dân phòng đều hưởng phụ cấp hàng tháng của Nhà nước.c.

       Từ đây cho thấy, khác với làng xã truyền thống là ở làng xã đương đại của Việt Nam xuất hiện vai trò lãnh đạo của Đảngng

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CƠ CHẾ TỰ QUẢN VÀ THIẾT CHẾ QUẢN LÝ  LÀNG XÃ TRUYỀN THỐNG VÀ ĐƯƠNG ĐẠI Ở VIỆT NAM NHƯ SAU:

CÁC THỜI KỲ

THIẾT CHẾ QUẢN LÝ LÀNG XÃ

CÔNG CỤ TỰ QUẢN

PHONG KIẾN

Hai thiết chế quản lý làng xã: Hội đồng kỳ mục và Hội đồng lý dịch

- Hương ước

- Tính tự quản cao – “tự trị”- “dân chủ làng xã”

PHÁP THUỘC

- Trước năm 1921, không thay đổi, như cũ

- Năm 1921, Pháp bỏ Hội đồng kỳ mục lập Hội đồng Hương chính (Một thiết chế được 8 năm)

- Năm 1927, Pháp phải lập lại Hội đồng kỳ mục vì dân quê phản đối

- Năm 1941, Pháp bỏ hai Hội đồng lập một Hội đồng gọi là Hội đồng Kỳ hào

- Như cũ

- Không còn Hương ước, mất “dân chủ làng xã”

- Lập lại “dân chủ làng xã”

 

- Chỉ còn một thiết chế - Hội đồng kỳ hào, không còn hương ước

QUỐC GIA VIỆT NAM

(PHÍA NAM VT 17)

Một thiết chế, đổi Hội đồng kỳ hào thành Hội đồng Hương chánh

Chỉ còn một thiết chế - Hội đồng Hương chánh, không còn hương ước

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

(PHÍA BẮC VT 17)

Theo mô hình HTX

Làm biến mất Làng xã truyền thống

ĐƯƠNG ĐẠI

 

 

 

 

TỪ 1998 ĐẾN NAY

- Chuyển sang thời kỳ đổi mới, một số địa phương tự lập Hương ước, bầu bộ máy lãnh đạo làng xã theo kiểu truyền thống (tự phát)

 

- Một thiết chế

- Có công cụ tự quản, nhưng chưa có pháp lý

 

 

- Hương ước (Chỉ thị 24/1998) và QCDC ở cơ sở (thôn, làng, ấp…) Nghị định 29/1998 của Chính phủ- Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra

 

Hai nguyên nhân cơ bản để các làng xã truyền thống tồn tại một cách bền vững, theo các nhà xã hội học: Ruộng công và nhà thờ họ. Theo Đào Duy Anh: “Khi nào nhân dân xin phép dựng làng, nhà vua thường cấp cho một khoảnh thổ địa để làm của chung. Những công điền công thổ ấy không được bán đi, trừ ra gặp buổi cơ cận tai hoạn dữ lắm thì xã thôn có thể xin phép (nhà vua-nhà nước) tạm cầm trong hạn 3 năm. Những ruộng đất công ấy là của nhà vua cho xã thôn được hưởng lợi, nên xã thôn phải nộp địa tô thường cao hơn thuế ruộng đất riêng”.

 MÔ HÌNH HÓA TỔ CHỨC LÃNG XÃ VIỆT NAM

        Việt Nam vốn có nền văn minh được nhận diện do sự tổ chức xã hội từng thành công dựa trên một “hình thái xã hội dân sự” với các “tế bào” của nó  là đơn vị làng. Chúng lưu giữ cả cấu trúc xã hội - kinh tế Việt, mang trong nó các mã di truyền Việt. Nó khác với “Singapore cấu trúc xã hội chủ yếu dựa trên các hiệp hội công thương, trí thức, người tiêu dùng; Philippin với giáo hội là nòng cốt của xã hội dân sự; Indonexia và Malayxia những tổ chức Islam có vai trò nổi bật; ở Thái Lan vai trò này thuộc về các tổ chức tăng đoàn và các chùa Phật giáo” (dẫn theo “Xã hội dân sự ở Malayxia và Thái Lan” Lê Thị Thanh Hương chủ biên).

Từ phân tích trên thì ĐQL xã hội đã xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ XVII đã tồn tại phát triển bển vững cho đến ngày nay.

Từ sơ đồ 1: Mô hình tổ chức làng xã Việt Nam có thể thấy rằng:

        - ĐQL xã hội làng xã truyền thống Việt Nam dựa trên cơ sở 2 thiết chế quản lý: tổ chức quan phương và tổ chức phi quan phương và 1 công cụ quản lý là hương ước (công thức 2 + 1).

        - Với mô hình quản lý làng xã truyền thống theo công thức 2 + 1, làng xã truyền thống Việt Nam có nguồn tài chánh tự trị. Quỹ của làng đã không bị chính quyền trung ương dòm ngó hay đòi hỏi chia chác, và cũng không có luật lệ nào quy định về cách thức quản trị và xử dụng quỹ làng, ngoài sự tuân theo thói tục và lệ làng. Hoa lợi hàng năm thu vào quỹ làng gồm có: Hoa lợi ao đầm và ruộng đất công; Tiền vọng ngôi thứ; Thuế chợ, thuế đò; Quỹ nghĩa thương, là kho thóc lúa dùng trong việc đề phòng những năm gặp thiên tai, hạn hán, bão lụt, mất mùa, đói kém... và Kho Nghĩa Thương chỉ dùng vào việc nghĩa để cứu dân làng; Một phần thuế bách phân phụ thu trên điền thổ của làng. Tóm lại làng xã Việt vừa là đơn vị hành chánh lại vừa là đơn vị kinh tế, đơn vị quốc phòng, đơn vị tín ngưỡng.     

        - ĐQL xã hội làng xã đương đại chưa đầy đủ: chỉ có 1 thiết chế quan phương thiếu 1 thiết chế phi quan phương (tổ chức của dân) mặc dù có hương ước và Quy chế dân chủ ở cơ sở.

        - Cơ chế tự quản làng xã đương đại là ở cấp thôn.

        - Còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu để hoàn chỉnh thiết chế quản lý làng xã đương đại theo truyền thống.

Trong nhiều công trình nghiên cứu về tính tự trị của làng xã truyền thống, chúng tôi giới thiệu Bài viết  “Tính tự trị của làng xã Việt Nam trong lịch sử của tác giả Huyền Thị Thu vừa đầy đủ và ngắn gọn.                                                                                  

Kỳ 3: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGHỀ ĐÁNH BẮT CÁ VÀ CƠ CHẾ TỰ TRONG LÀNG CÁ TRUYỀN THỐNG VÀ ĐƯƠNG VIỆT NAM

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1) Quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ TCSCĐ tại các thôn biển của xã Ninh Ích, h. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Th.S Võ Thiên Lăng, năm 2001)

2) Làng và quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ, GS-TS Ngô Văn Lệ, www.bee.net.vn

3) Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam, PGS.TS Lê Minh Thông, Ban Tổ chức TW Đảng

4) Tính tự trị của làng xã Việt Nam trong lịch sử, Hoàng Diệu Thu. www.Ohdear.vn

5) Thực hiện đưa pháp luật vào hương ước và thực thi hương ước hiện nay. Trương Hồng Quang NCV Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp

6) Lệ làng truyền thống với việc hình thành ý thức pháp luật cho nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới. www.doko.vn

7) Đặc điểm văn bản và nội dung tục lệ làng xã cổ truyền  Đinh Khắc Thuân

http://vanhoanghean.com.vn

8) Văn hóa Hương ước - từ truyền thống đến hiện đại, Lê Thị Hiền

9) Tổ chức làng xã cổ Việt Nam  Song Thuận (CLB/HSV)

10) Tổ chức xã hội dân sự - một di sản của Việt Nam, Trần Trung Chính   

11) Tìm hiểu tổ chức giáp của làng Đông Ngạc (xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội) Võ Thị Phuwong Thúy, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam

12 Vai trò của Vạn đối với cộng đồng cư dân huyện đảo( Trường hợp xã An Vinh, huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi), Lê Mộng Thy Nhân, học viên cao học ngành Dân toccj học, khóa 2011 – 2013, Trường ĐHKHXH&NV-TP.HCM

13) Thế nào là văn hóa tổ chức làng xã. testthuthoimacungmet.googlecode.com

                                   

 

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGHỀ ĐÁNH BẮT CÁ VÀ CƠ CHẾ TỰ QUẢN TRONG LÀNG CÁ TRUYỀN THỐNG VÀ ĐƯƠNG VIỆT NAM (Kỳ 3)

Trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa hoạt động đánh bắt cá dường như là hoạt động quan trọng, chỉ xếp sau canh tác nông nghiệp. Người nông dân sau công việc đồng áng, tìm mọi cách thức để đánh bắt cá, tôm làm thức ăn. Bữa ăn hàng ngày của cư dân thường chỉ có cá kho, mắm cái làm thực phẩm chính, các loại thực phẩm khác từ chăn nuôi gia cầm thường chỉ được dùng trong những ngày lễ, tết hoặc ở những gia đình khá giả. Thời xa xưa dân cư thưa thớt, thiên nhiên chưa bị tàn phá, rừng cây, nguồn nước dồi dào, sông hồ, ao đìa quanh năm có nước cho nên tôm cá sinh trưởng tự nhiên ở khắp các vùng nước, như người ta thường nói "có nước là có cá".

1. Ngư cụ đánh bắt cá

Truyền thống

Thời kỳ đầu, việc đánh bắt tôm cá như một nhu cầu sinh tồn tự nhiên của mỗi người, mỗi gia đình, mang tính tự túc, tự cấp, chưa phải là một hoạt động sản xuất mang tính xã hội. Ngư cụ đánh bắt thô sơ từ "mò cua bắt cá" bằng tay, đánh giậm, thả lờ, đặt nơm, câu tay, cho đến dùng lưới bắt cá như lưới bén, quăng chài, kéo vó…để đánh bắt các loại thủy sản. Tuy nhiên, ngư cụ và kỹ thuật khai thác còn thô sơ, chưa được cải tiến, nên năng suất và hiệu quả chưa cao.  Mặt dù vậy, các loại ngư cụ thủ công cổ truyền vẫn được sử dụng rộng rãi phổ biến ở các vùng nước nông và vùng nước nội địa như ao, hồ, đầm, sông, ven biển. Kết cấu và kỹ thuật khai thác của mỗi một loại ngư cụ truyền thống cũng khác nhau, không theo một tiêu chuẩn kỹ thuật nào mà phụ thuộc vào kinh nghiệm của người dân địa phương. 

Dưới đây là 12 loại ngư cụ đánh bắt cá truyền thống của người Việt:  

 

TT

LOẠI

CÔNG CỤ

PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH BẮT

VÙNG ĐÁNH BẮT

1

Chài lưới

Chài là một loại ngư cụ được sử dụng phổ biến ở nước ta để đánh bắt cá ở ao, hồ sông suối. Đối tượng đánh bắt: cá mương, cá dầu và các loại cá ngạnh, cá chép, cá chày, cá mè…

Sông, suối, ao, hồ

2

Dậm

Dậm là ngư cụ dùng để khai thác các loài thủy sản ven bờ ở ao, đầm, hồ…Nguyên lý đánh bắt chủ động và thường đánh bắt kết hợp.

Sông, suối, ao, hồ

3

Dập

 Dập là ngư cụ cầm tay loại nhỏ dùng để khai thác các loài cá nước ngọt, nơi có độ sâu nhỏ, đánh bắt chủ động. Dập là ngư cụ khai thác cá chép tự nhiên trong sông, hồ, hồ chứa rất có hiệu quả.

Sông suối ao hồ

4

Đáy

Đáy là ngư cụ dùng để khai thác các loài thủy sản, nơi có dòng chảy và nó thường được đặt cố định ở khu vực cửa sông hay ở vùng biển nông ven bờ. Đáy đánh bắt cá theo nguyên lý lọc nước lấy cá.

Ven biển

5

Đăng

Đăng là loại ngư cụ cố định sử dụng phổ biến ở ven bờ biển và trong nước ngọt, để chặn bắt cá di chuyển. Đăng có cấu tạo vô cùng phong phú, tùy theo vùng đánh bắt, tập tính của đối tượng đánh bắt và tập quán của người dân địa phương

Ven biển

6

Đó

Ngư cụ cố định dùng để khai thác các loài thủy sản nơi có độ sâu và dòng chảy nhỏ. Nguyên lý đánh bắt thụ động, cá di chuyển theo dòng nước qua hom vào trong đó.  Đó chủ yếu được làm bằng tre. Hình dáng, kích thước của đó tùy thuộc vào khu vực đánh bắt và tập quán của người dân địa phương. 

Ven sông, hồ, ao

7

Lờ

Ngư cụ cố định dùng để khai thác các loài thủy sản nơi có độ sâu và dòng chảy nhỏ. Nguyên lý đánh bắt thụ động, cá di chuyển theo dòng nước qua hom vào trong đó. 

Khi lụt

8

Nơm

Nơm là ngư cụ dùng để khai thác các loài cá ở ruộng, ao, đầm. Nguyên lý đánh bắt hoàn toàn chủ động. Nơm được làm từ nhiều thanh tre liên kết với nhau, có dạng gần giống hình nón cụt, có 2-3 vành đai mây chắc chắn, miệng trên và đáy dưới thủng.

Khi lụt

9

Ống lươn

Ống lươn là ngư cụ cố định dùng để đánh bắt lươn hoặc chạch. Nguyên lý đánh bắt bị động ở những nơi như ao, đầm, ruộng…ống đánh lươn được làm bằng nứa hoặc tre.

Hồ, ao

 

10

Te

Te (xiệp) là ngư cụ đánh bắt chủ động dùng để khai thác hải sản ven bờ, nơi có độ sâu nhỏ. Te (xiệp) đươc làm bằng lưới có hình dạng giống như cái túi, miệng lưới được căng bằng hai sào tre vắt chéo nhau và đầu sào gắn guốc để dễ trượt trên nền đáy.

Hồ, ao

11

Vó bè

Vó bè là ngư cụ dùng để khai thác các loài thủy sản ở cửa sông, cửa cống lớn, đón bắt cá di chuyển theo dòng nước. Nguyên lý đánh bắt bị động theo kiểu đón lõng. Vó bè thường hoạt động vào mùa mưa, cá di chuyển theo dòng chảy. 

Cửa sông

 

 

12

Lồng bẫy

Bẫy là ngư cụ truyền thống, đánh bắt theo phương pháp thụ động, có tên thường gọi là lồng, bóng, bẫy cá, bẫy chình, bẫy bạch tuộc, bẫy mực, bẫy tôm hùm, bẫy ốc hương, bẫy ghẹ, bẫy cá song. 

Bẫy có cấu tạo khá đơn giản. Hình dạng và cấu tạo của bẫy được chế tạo phụ thuộc vào đối tượng khai thác (hình ống, hình elíp, hình hộp, hũ…). Vật liệu chế tạo được lấy từ các vật liệu như tre, mây, các loại gỗ

Ven sông, ven biển

 

Trong 12 ngư cụ đánh bắt cá truyền thống thì chí có chài lưới mới thành một nghề.

Chài có dạng hình chóp, kích thước mắt lưới của chài thường làm đồng đều từ đỉnh đến dụi nhưng số mắt lưới tăng dần. Dụi chài là phần túi lắp theo vòng tròn đáy và dụi chài là nơi chứa cá. Dụi chài đan bằng sợi có độ thô chỉ lưới lớn hơn phần thân chài. Chài thường được trang bị số lượng chì khá lớn để đảm bảo miết giềng chì sát đáy khi thu chài. Do diện tích đáy chài nhỏ, phạm vi bao vây cá hẹp, nên chài chỉ hoạt động có kết quả ở những khu vực có cá tập trung. Nếu cá phân tán người ta dùng mồi tập trung cá trước khi quăng chài. Khi quăng chài thì phải tung mạnh chài về phía trước để chài xòe rộng và chụp xuống nước vây cá ở phía trong. Lúc này cá hoảng sợ chúi xuống đáy, ngâm chài một lát chờ cá ngoi lên, dùng dây dong kéo chài từ từ để dụi chài chụm lại, cá dồn về dụi chài và tiến hành thu cá.

Text Box:  

 

 

 

 

Đương đại

Tùy theo tập tính sinh sống của các loài thủy sản ở các vùng nước khác nhau (vùng khơi, vùng lộng, tầng đáy, tầng mặt), người ta phải sử dụng nhiều loại tàu thuyền và ngư cụ khác nhau, được phân chia ra thành những nghề đánh bắt khác nhau. Trong từng thời kỳ, cơ cấu thuyền nghề có sự thay đổi, phụ thuộc các yếu tố như biến động nguồn lợi thủy sản, nhu cầu sản phẩm hoặc du nhập nghề mới. Trong thực tế, một thuyền nghề chính có thể kiêm thêm nghề phụ khác, cho nên sự phân loại cũng chỉ là tương đối. Dưới đây chỉ giới thiệu khái quát một số loại nghề đánh bắt thủy sản tiêu biểu của nghề cá Việt Nam đến hiện nay.

TT

LOẠI

CÔNG CỤ

PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH BẮT

XU HƯỚNG

 

 

Đánh bắt ven bờ

 

1

Nghề lưới rùng

Lưới rùng là ngư cụ khai thác thuỷ sản theo phương pháp lọc nước lấy cá. Lưới có cấu tạo dạng tường lưới, chiều cao tường lưới phải lớn hơn độ sâu nước, sao cho giềng chì luôn sát đáy và giềng phao luôn nổi trên mặt nước. Lưới bao vây một vùng nước và kéo lưới lên bờ hoặc lên thuyền để thu cá.  

Bị cấm sử dụng

2

Lưới 1, 2, 3

Lưới đơn hoặc lưới 2, 3 lớp có phao và chì thả vùng nước cạn chờ cá, tôm…đóng thu lưới bắt cá. Thuyền chèo + lưới, chi phí thấp

Đang phát triển

3

Câu

Câu tay, câu dắt

Đang phát triển

4

Nghề lưới đăng

Lưới đăng là ngư cụ cố định được đặt chắn ngang hướng di chuyển của cá, lưới dẫn hướng cá qua cửa hom vào chuồng lưới và cá sẽ bị giữ lại tại chuồng lưới.

 

5

Nghề lồng bẫy

Bẫy là ngư cụ truyền thống, đánh bắt theo phương pháp thụ động, có tên thường gọi là lồng, bóng.Người ta thường phân loại bẫy dựa theo các đối tượng khai thác, gồm các loại sau: bẫy cá, bẫy chình, bẫy bạch tuộc, bẫy mực, bẫy tôm hùm, bẫy ốc hương, bẫy ghẹ, bẫy cá song. 

Đang phát triển

6

Nghề mành

Lưới mành còn gọi là mành dắt, ngư cụ đánh cá biển truyền thống, chủ yếu dùng để khai thác các loài cá nổi (nục, cơm, chim, trích, bạc má, chỉ vàng, sơn đỏ...). Lợi dụng tập tính của cá mà người ta dùng chà rạo thả xuống biển tạo bóng râm, dụ cá đến ở rồi nhử dắt vào lưới, hoặc ban đêm dùng ánh sáng đèn nhử cá tập trung lại rồi dẫn dắt chúng vào lưới, hoặc đánh lưới đón xúc những đàn cá đi khơi.

Đang giảm dần

7

Nghề mành đèn

Mành đèn là nghề biển cổ truyền, hoạt động vào ban đêm, năng suất tương đối cao, khai thác các loại cá nhỏ ven bờ như mành chà. Nghề mành đèn dựa trên nguyên tắc dùng ánh sáng đèn thu hút đàn cá và dắt cá vào lưới. Nghề này có thể kết hợp với nhiều loại nghề đánh cá khác trong cùng một thời gian và trên cùng một con thuyền, nên rất thuận tiện và có lợi cho sản xuất.

Phát triển mạnh

8

Nghề pha xúc

Mành chong pha xúc: ra đời vào những năm 90 của thế kỷ XX, thay thế cho nghề mành cơm truyền thống. Nghề này chủ yếu đánh bắt những đàn cá cơm xuất hiện di chuyển theo dòng hải lưu vào sát ven bờ. Nguyên lý đánh bắt của nghề pha xúc là sử dụng ánh sáng cực mạnh của chùm đèn pha có công suất từ 5.000W - 10.000W để thu hút đàn cá nổi lên gần mặt nước, rồi ngay lập tức dùng lưới xúc cá lên thuyền. Mùa vụ khai thác chính cho sản lượng cao nhất là từ tháng 2 đến tháng 4 âm lịch.

Đang giảm dần vì quy định của Nhà nước không dùng quá 1.000w đối với vùng lộng và ven bờ

9

Nghề lưới trũ

Lưới trủ là một trong những nghề đánh bắt lâu đời của ngư dân. Tên gọi này bắt nguồn từ phương cách kéo rút trủ dựa theo sát bờ biển.

Cấm vì dùng mắt lưới nhỏ

10

Các nghề khác: Lặn, đâm cá, bắt ốc…..

Bằng tay khi triều xuống cạn

Vẫn tồn tại

 

 

Đánh bắt xa bờ (biển xa)

 

1

Nghề lặn

Nghề lặn khá phổ biến và nổi tiếng nhất là ngư dân vùng đảo, họ có thể lặn tới độ sâu 30m - 40m nước. Dụng cụ lặn đơn giản chỉ gồm máy nén khí và đường ống dẫn khí. Người lặn ngậm ống cao su được cung cấp khí liên tục bằng máy nén khí, nhờ đó người ta có thể lặn dưới nước hàng giờ để bắt các loài cá, tôm hùm, ốc biển, hải sâm…

Hạn chế

2

Nghề lưới chuồn

Nghề lưới chuồn là nghề đánh cá truyền thống của ngư dân Nam Trung bộ, chuyên đánh bắt cá chuồn ở vùng biển khơi. Nguyên tắc đánh bắt của nghề lưới chuồn cũng như của nghề lưới rê (cản) nói chung

Giảm dần

3

Nghề lưới kéo

Lưới kéo là một trong những ngư cụ quan trọng nhất trong nghề khai thác hải sản, nó có thể đánh bắt ở mọi vùng nước, tầng nước, đối tượng đánh bắt đa dạng và thường đạt hiệu quả cao. Lưới kéo là ngư cụ chủ động, hoạt động theo nguyên tắc lọc nước lấy cá. Lưới có dạng như một cái túi được kéo trong nước nhờ sức kéo của tàu thuyền thông qua hệ thống dây cáp kéo. Lưới kéo tầng đáy thường có cấu tạo gồm các thành phần chủ yếu là: cánh lưới, thân lưới và túi lưới.

Giảm dần

4

Nghề lưới rê

(cản)

Lưới rê là loại ngư cụ hoạt động theo phương pháp bị động, lưới trôi theo dòng chảy hoặc được thả chắn ngang đường đi của cá và một số loài thủy sản khác (khi gặp lưới chúng mắc phải mắt lưới hoặc quấn vào lưới). 

Lưới rê có thể đánh bắt được ở nhiều tầng nước khác nhau, cả gần bờ và xa bờ. Đối tượng khai thác chính của nghề lưới rê là các loại cá, cua ghẹ, mực nang, một số loài tôm…Tùy theo đối tượng khai thác mà cấu tạo và kích thước của lưới rê khác nhau. Lưới rê hỗn hợp có thể bắt được cá tầng đáy

Sẽ cấm khai thác

5

Nghề lưới vây

Lưới vây là một giải lưới có dạng gần giống hình chữ nhật, thường được sử dụng để bao vây đàn cá nổi đang di chuyển hoặc tập trung dưới nguồn sáng hoặc chà. 

Tùy theo kích cỡ tàu thuyền và đối tượng khai thác, lưới vây thường có chiều dài từ 300 – 1.500m và chiều cao từ 45 - 150m.  

Phát triển với công nghệ hiện đại hơn

6

Nghề câu khơi

Nghề câu: câu tay cá ngừ đại dương kết hợp ánh sáng, câu vàng có nhiều ưu điểm như cấu tạo ngư cụ tương đối đơn giản, khai thác có tính chọn lọc cao nên không tàn phá nguồn lợi và môi trường, ít chi phí năng lượng, khai thác các đối tượng có giá trị cao (cá ngừ, cá thu, mực,…).

Đang phát triển cần quy hoạch

Một số nghề cấm: Sử dụng chất nổ, chất độc, xung điện làm chết hoặc tê liệt các loài thủy sản  làm suy thoát môi trường và nguồn lợi thủy sản đang diễn ra ở nhiều địa phương. Nghề lờ dây mới du nhập từ Trung Quốc đang phát triển cũng làm hủy diệt nguồn lợi thủy sản.

2. Phương tiện đánh bắt cá 

Xã hội càng phát triển, nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng lên, ngư cụ ngày càng được cải tiến, người ta có thể đánh bắt cá từ trong nội đồng vươn dần ra biển, ban đầu chỉ bằng những phương tiện nhỏ bé, mỏng manh như thuyền chèo, thuyền nan, thuyền thúng, thuyền buồm, chỉ đánh bắt ven bờ không vượt quá tầm nhìn.

Chài lưới là ngư cụ, tuy nhiên để thành một nghề làm ăn thì phái có phương tiện đánh bắt đó là thuyền. Các gia đình Vạn chài có ít nhất một con thuyền vừa là nhà ở vừa là cộng cụ sản xuất đồng thời cũng là phương tiện đi lại. Nguyên liệu chính để làm thuyền nan là tre. Tre được chọn lựa kỹ càng, phải là loại tre rừng đã già. Trát bằng vôi vỏ hà, hắc ín, nhựa cây. Có được thuyền gỗ là một sự thay đổi to lớn vì thuyền nan dễ bục, rất chóng bong và không thể đan to. Bên cạnh thuyền chính có một loại thuyền nữa được ngư dân sử dụng phổ biến để phục vụ cho việc đánh bắt là mủng (cái bơi) hoặc thuyền thúng phổ biến ở các tỉnh Nam Trung Bộ.

                            Thuyền thúng                                 

                  Những người thợ ở làng nghề Hưng Học đang thực hiện công đoạn cuối để hoàn thiện một chiếc thuyền nanan

Nghề làm thuyền nan và thuyền thúng đến nay vẫn tồn tại ở Đảo Hà Nam có một làng nghề đan thuyền nan truyền thống khá độc đáo tập trung chủ yếu ở khu Hưng Học, phường Nam Hòa (TX. Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh) và nhiều nơi khác ở Việt Nam

3. Lịch sử phát triển các loại phương tiện đánh bắt cá

CÁC

GIAI ĐOẠN

TÊN GỌI,

XU HƯỚNG

TÓM TẮT CẤU TẠO

LOẠI ĐỘNG LỰC

Tiền sử

Bè mảng

Ống nứa, lồ ô kết lại băng dây mây, gắn buồm

Chèo tay và buồm

Tiền sử, và ngày nay

Thuyền nan

(tồn tại trên sông, hồ)

Vật liệu tre già, trát bằng vôi vỏ hà, hắc ín, nhựa cây

Chèo tay và buồm

Thế kỷ XVII-XVIII

Ghe bầu

(không còn)

Ghe bầu có dáng hai đầu nhọn, bụng thuyền phình to (bầu), lô lái và lô mũi cong. Thuyền cấu tạo có lòng cốt, lòng thuyền ngăn thành từng khoang để chứa hàng. Có loại ghe bầu đáy bằng nan, trên là ván be ghép với nhau bằng chốt mộng. Thuyền sử dụng lái lồi, bánh lái cong theo lô lái, sâu dưới lòng cốt.  Mắt thuyền lớn, dài, xếp về phía sau. Ghe bầu thuộc loại thuyền lớn, có thể  trọng tải từ 50 – 100 tấn, có thể  chạy ngược gió bằng kỹ thuât

“chạy vát”.

Lực đẩy thuyền là các lá buồm: buồm lòng, buồm mũi ở hai đầu ghe.

Thế kỷ XIX-XX và XXI

Tàu thuyền võ gỗ

(Đang phát triển)

Chỉ có thiết kế sơ bộ theo mẫu dân gian. Cấu tạo chung của loại tàu đánh cá vỏ gỗ hiện nay gồm: đà chính (ky tàu), sống mũi (xỏ), khung sườn (cong giang), vỏ tàu, sàn tàu (xa quạ), cabin (buồng lái, buồng ngủ), hầm tàu để chứa lưới và chứa cá, hệ thống lái. Gỗ cây được xẻ ra theo kích thước đã định và được lắp ráp liên kết với nhau một cách vững chắc. Phương pháp liên kết vật liệu gỗ đóng tàu trước kia chủ yếu được ghép mộng hoặc dùng chốt tre, chốt gỗ, ngày nay được liên kết bằng bulông thép chắc chắn hơn nhiều.

Động cơ diêden thủy

Vào cuối thập niên 60

TK XX

Tàu vỏ thép

(Đến cuối thập niên 90 không còn phát triển)

Thiết kế được Đăng kiểm phê duyệt. Cấu tạo như tàu vỏ gỗ, nhưng tất cả đều bằng thép, liên kết bằng hàn. Quy trình chế tạo:

 Nhập, sơ chế nguyên vật liệu, làm sạch, cán phẳng, sơn lót; Phóng dạng vỏ tàu, chế tạo dưỡng mẫu; Gia công chi tiết vỏ tàu và các cụm chi tiết thân tàu; Chế tạo phân đoạn, tổng đoạn; Lắp ráp phân, tổng đoạn trên triền; Lắp ráp hệ trục chân vịt, máy phụ, thiết bị; Hạ thủy và hoàn thiện tại bến; Nghiệm thu, chạy thử, bàn giao

- nt -

Vào cuối thập niên 90 TK XX

Tàu vỏ composite

(Đang phát triển)

Thiết kế được Đăng kiểm phê duyệt. Cấu tạo như tàu vỏ gỗ nhưng bằng vât liệu composite. Quy trình chế tạo: Phóng dạng vỏ tàu: Chế tạo khuôn; Xử lý khuôn; Gia công thân tàu (vải thủy tinh + nhựa); Gia công kết cấu trong tàu; Tách khuôn, hoàn chỉnh, lắp ráp các trang thiết bị, hệ trục, máy phụ; Hạ thủy hoàn thiện tại bến: Nghiệm thu, chạy thử, bàn giao

- nt -

Vào cuối thập niên 60

Tàu xi măng lưới thép

(Không còn phát triển cho tàu đánh cá)

Tàu xi măng lưới thép: có thể bên trong vỏ tàu là nguyên vật liệu gỗ, bên ngoài bọc xi măng lưới thép để tăng độ bền cho vỏ tàu, một số tàu được thi công hoàn toàn bằng xi măng lưới thép. Đặc điểm của tàu xi măng lưới thép là rất nặng, tốc độ chậm, độ bền không cao, dễ bị ăn mòn bởi nước biển. Khả năng chịu đựng sóng gió kém. 

- nt -

 

 

 

4. Lịch sử phát triển nghề đánh bắt cá ở Việt Nam

Nghề đánh bắt cá phụ thuộc chủ yếu vào phương tiện, trong đó công nghệ vật liệu để làm tàu thuyền đánh cá, vật liệu làm ngư lưới cụ, động lực đẩy tàu đóng vai trò quan trọng cho việc phát triển.

Thời kỳ Pháp thuộc trở về trước

Giữa thế kỷ XVI, sau hàng loạt các cuộc di dân từ phía bắc vào phía Nam, ở các vùng ven biển, làng xóm nhanh chóng mọc lên gắn liền với lập vạn chài. Nghề cá hoạt động mạnh và phát triển tập trung ở những vùng thuận lợi như Quy Nhơn, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa….Phương tiện đánh bắt chủ yếu là các loại ghe lưới, ghe câu, nốt chà... (đóng bằng ván, nan, hoặc vừa nan vừa ván). Lưới đánh cá được đan bằng nhợ gốc, tơ gốc nhuộm huyết bò hoặc vỏ cây sắn. Phao lưới là thân cây vông khô, chì làm bằng thỏi sành (đất sét nung già lửa).
Ánh sáng dùng cho nghề câu mực là đèn chai (nhiên liệu chai cục, bó đèn, với vỏ cây tràm). Sau đó tiến lên dùng đèn khí đá (đất đèn).
Buổi đầu, những người làm biển khai thác chủ yếu nghề câu và nghề lưới ven bờ và đã bước đầu chế biến nước mắm, mắm ướp và dầu cá...
Theo thống kê của Pháp thì năm 1944 tổng sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam đạt 127.000 tấn. Ngoài nghề chài lưới thì đã xuất hiện nhiều nghề mới như nghề lươi kéo, nghề lưới rê, nghề lưới đăng ở Khánh Hòa... Ở miền Bắc: Trước năm 1960, thuyền ngư dân vùng Yên Hưng - Hòn Gai là loại thuyền 3 vách, vỏ đan bằng tre già, các vách được liên kết bằng lỗ khoan, dùng dây mây và guột để làm mối buộc, lấy sắn thuyền để sảm, dùng các thanh tre để nẹp giữ các đường sảm và nêm chặt các mối buộc. Thuyền có lòng sâu, mũi cao, ở mui thuyền có “căng” để sống cá, loại này còn được gọi thuyền cá nóc. Còn ngư dân vùng Đầm Già, Hải Hà, Móng Cái lại dùng thuyền 3 vách, lườn bé, thành sâu, lái rộng, mũi cao, gọi là thuyền “mũi rắn ráo, lái chèo pheo”, sau này chuyển thành “thuyền tròn vỏ dưa”, có lợi thế nông mớn nước, độ cạn thấp, chèo lái nhẹ nhàng, ra vào bến dễ dàng nhưng khi có sóng to gió lớn thuyền hay bị bạt. Ngư dân vùng Cổng Yên, Cô Tô do ngày đêm trực tiếp với sóng gió biển khơi nên dùng loại “thuyền cóc”, đít bằng, có buồm cánh dơi để đánh lưới giã.

Ở miền Nam: Nghề đánh bắt cá chuồn bằng ghe bầu phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh Nam Trung Bộ, đặc biệt là Quãng Ngãi, Bình Định bởi ở đây có nghề đóng ghe bầu.

Qua những tài liệu hiện có cho thấy ghe bầu miền Trung phân bố từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận, trong đó các tỉnh Quảng Trị và Khánh Hòa là không có nghề đóng ghe bầu. Bên cạnh yếu tố Mã Lai-Nam Đảo, ghe bầu xứ Quảng còn tiếp thu một số chi tiết kỹ thuật của thuyền buồm đông Địa Trung Hải, tây Ấn Độ Dương và nam Trung Hoa. Kết hợp với các tư liệu folklore về nghề đóng ghe bầu, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ghe bầu là kết quả trực tiếp của quá trình giao lưu kinh tế, văn hóa Việt-Chăm, của kỹ thuật đóng ghe cổ truyền Việt và kỹ thuật đóng thuyền Champa.

Vùng Nam Trung Bộ là nơi có nhiều nguyên liệu để đóng thuyền, như các loại gỗ trên rừng: Kiền kiền, sao, chò, lim, giẻ..., mà ngay từ thế kỷ XVIII Lê Quý Đôn đã ghi lại trong sách Phủ Biên tạp lục của mình. Ngoài ra, nơi đây còn có các sản vật cần dùng cho nghề đóng thuyền là dầu rái, lá buồng, vỏ tràm, mây song... Việc chế tạo và sử dụng ghe bàu không chỉ của người Việt ở Xứ Quảng, mà xưa hơn nữa là người Chăm.

Trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), ghe bầu được sử dụng vào việc đánh bắt hải sản. Đây là những ghe nhỏ có chiều dài khoảng 25 thước ta (11m), rộng 5 thước ta (2,2m), được đóng ở Lý Sơn chủ yếu dùng để đánh bắt cá chuồn. Từ thế kỷ XVII-XVIII, ghe bầu đã góp phần trong việc đưa những lưu dân người Việt vào khai phá đất Gia Định mà Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục.

Chính nhờ loại ghe bầu này mà người dân Xứ Quảng có thể vươn ra khơi xa để đánh bắt cá, đặc biệt là việc tổ chức đội lính Hoàng Sa có thể dùng thuyền ra chiếm cứ và canh phòng đảo cách xa đất liền gần 300 km. Khi trời thuận gió, từ Phan Thiết vào Vũng Tàu, ghe bầu chạy chỉ mất một ngày đêm, trung bình 18km/giờ.

Vào những năm 30 thế kỷ XX, nghề cá phát triển, đẻ ra một số thành phần xã hội vùng biển như: Đầu nậu (người có vốn cho ngư dân mượn, đến mùa thu lại hải sản với giá thấp hơn thị trường); Chủ vựa (chuyên bán chịu vật tư nghề cá cho người sản xuất, sau đó bao mua hải sản giá thấp, bán lại thu giá cao); Rỗi bờ, rỗi nước (người không có thuyền hoặc có thuyền nhỏ, mua đi bán lại hải sản trên bờ hoặc trên sông, biển); Con hôi (chuyên ăn trộm cá). Cho đến nay nậu, vựa vẫn đồng hành với nghề đánh bắt cá Việt Nam.
SỐ LƯỢNG TÀU THUYỀN VÀ SẢN LƯỢNG KHAI THÁC THỦY SẢN

NĂM

TỔNG SỐ TÀU THUYỀN (Chiếc)

SẢN LƯỢNG KHAI THÁC (Tấn)

GHI CHÚ

1944

 

127.000

Cả nước

1964

15.875, trong đó:

- Thuyền thủ công: 11.139

- Tàu gắn máy (QDTW): 57 chiếc với Tổng công suất: 6.576CV

- Tàu gắn máy (QDĐP): 12 chiếc với tổng công suất: 840CV

102.500

Miền Bắc từ Vĩ tuyến 17 trở ra

1981

25.000

420.000

Cả nước

2000

80.000

1.280.000

- nt -

2008

101.000

2.130.000

- nt -

2010

120.000

2.450.000

- nt -

2011

125.000

2.200.000

- nt -

2012

120.000

2.600.000

- nt -

Nguồn: Bộ Thủy sản và Bộ NN&PTNT

Từ năm 1950 đến năm 1975

Từ sau những năm 1950, đánh giá vị trí ngày càng đáng kể của ngành thủy sản, ngành Thuỷ sản đã dần hình thành và phát triển như một ngành kinh tế - kỹ thuật có vai trò và đóng góp ngày càng lớn cho đất nước. Kinh tế thuỷ sản bắt đầu được chăm lo phát triển để manh nha một ngành kinh tế kỹ thuật. Đây là thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc. Trong thời kỳ này, với sự giúp đỡ của các nước XHCN, các tổ chức nghề cá công nghiệp như các tập đoàn đánh cá với đoàn tàu đánh cá Hạ Long, Việt - Đức, Việt - Trung, Việt -Xô, nhà máy cá hộp Hạ Long của Nhà nước được hình thành. Đặc biệt, phong trào hợp tác hoá được triển khai rộng khắp trong nghề cá. Tuy nhiên, nghề cá ở miền Bắc vẫn còn thủ công là chính. Trong những năm 1960, nghề cá phía Nam được cơ giới hóa do tài trợ của Nhật Bản với các loại máy có công suất từ 10CV - 45CV. Đến năm 1981 cả nước có 25.000 chiếc tàu thuyền, chủ yếu là tàu vỏ gỗ khai thác gần bờ được 420.000 tấn thủy sản.

Hình thành quốc doanh đánh cá đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam

Đội tàu của Quốc doanh đánh cá Hạ Long (giai đoạn 1960 – 1995)

 

Đặc tính

kỷ thuật

Khối tàu

Việt Đức

Khối tàu

Việt Triều

 Khối tàu Việt Trung

         Khối tàu    Việt

  Xô

250 CV

400CV

225CV

800 CV

1.000 CV

Vật liệu

Vỏ thép

Vỏ thép

Vỏ thép

Vỏ thép

Vỏ thép

Vỏ thép

Vỏ thép

Nghề khai thác

Lưới kéo

đôi

Lưới kéo đơn

 

Lưới kéo

đơn,thu

mạn

Lưới kéo đơn, thu mạn

Lưới kéo tôm (tăng gông)

Lưới kéo đơn

 Lưới kéo đơn

 thu đuôi

(có máng trượt)

Công suất (CV)

90 - 100

300

250

400

225

800

1.000

 Số lượng (chiếc)

4

2

18

4

8

2

9

(1 chiếc chở hàng đông lạnh)

  Tổng số (chiếc)

 

 

 

47

 

 

 

Bảo quản

Đá lạnh

Đá lạnh

Đá xay

Đá xay, có máy lạnh bảo quản cá đá

 

 

Tủ đông cấp tốc, hầm bảo quản

- 200C

Tổng công suất (CV)

19.500

                 

 Nguồn: Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa

Từ năm 1975 đến năm 2000

Những năm 1976 – 1980, đất nước thống nhất, ngành Thủy sản bước sang giai đoạn phát triển mới trên phạm vi cả nước. Tầm cao mới của ngành được đánh dấu bằng việc thành lập Bộ Hải sản năm 1976. Trung ương có QDĐC trung ương, các tỉnh đều có QDĐC các tỉnh và phong trào HTX phát triển.  

Đội tàu của Quốc doanh đánh cá Phú khánh (giai đoạn 1977 – 1998)

Đặc tính kỷ thuật

Khối tàu 33CV đến 140CV

Khối tàu Nhật Bản 400CV

Vật liệu

Vỏ gỗ

Vỏ thép

Nghề khai thác

Lưới kéo đơn, đôi thu mạn

Lưới kéo đơn, thu mạn

Công suất (CV)

33 – 140

400

Số lượng (chiếc)

15

3

Tổng số (chiếc)

18

 

Bảo quản

Đá xay

Tủ đông cấp tốc, hầm bảo quản

- 200C

 

 

 

Tổng công suất

2.360CV

                                                                                           Nguồn: Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa

Nghề cá nhỏ ven bờ có điều kiện phát triển, nghề thủ công giảm dần thay vào đó là cơ giới hóa nghề cá cả nước, tàu thuyền bằng vỏ gỗ phát triển mạnh, không còn thuyền nan trên biển. Từ kinh tế bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, đến năm 2000 số lượng tàu thuyền cả nước là 101.000 chiếc, sản lượng khai thác đạt 1.280.000 tấn tăng gần gấp 3 năm 1981 và gấp 20 lần năm 1944.

Đến năm 1998 tất cả các QDĐC trung ương lẫn địa phương bị giải thể do làm ăn thua lỗ, phong trào HTX lắng xuống theo. Trên biển chỉ còn đội tàu cá của ngư dân. Với chủ trương “nghề cá nhân dân”, nghề cá phát triển mạnh mẽ mà chủ yếu là loại tàu thuyền có công suất nhỏ.

Từ sau năm 1997, khi có Chủ trương phát triển khai thác xa bờ và ổn định khai thác vùng ven bờ, thời điểm bắt đầu triển khai chương trình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu đánh bắt xa bờ. Tỷ trọng tàu thuyền công suất lớn trên 90 CV tăng đáng kể.

Từ năm 2001 đến nay 

Năm 2008, tổng số tàu thuyền cả nước là 101.000 chiếc khai thác với sản lượng 2.130.000 tấn. Trong đó, có 17.000 chiếc có công suất trên 90CV. Tỷ trọng sản phẩm khai thác xa bờ đã tăng nhanh, chiếm khoảng 40 % tổng sản lượng khai thác hải sản. Thực hiện Quyết định 289 của Chính phủ trong năm 2008 về hỗ trợ dầu, ngành chức năng mới có số liệu tàu thuyền chính xác từ 2010 đến nay.

Tính đến cuối năm 2012, cả nước có khoảng 128.000 tàu cá, trong đó 61.000 chiếc có công suất dưới 20CV (chiếm 48,8%), 38.000 tàu có công suất từ 20 CV đến 90CV (chiếm 30,4%), 26.000 chiếc có công suất trên 90CV (chiếm 20,8%). Đã có trên 93.000 tàu được cấp phép, gia hạn và cấp lại (chiếm 74,4%, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2011). Nếu tính tàu thuyền có công suất từ 45CV trở xuống thường xuyên hoạt động vùng ven bờ thì s lượng có thể chiếm trên 70%.

Vẫn còn tồn tại một lượng lớn các xuồng 2 đầu nhọn thủ công (chèo tay).

5. Sự hình thành và phát triển các làng cá Việt Nam

 Làng là nơi cư trú của cư dân nông nghiệp, sản xuất lúa nước gắn liền với thủ công nghiệp, đánh bắt cá. Ruộng đất công (đất) và thủy lợi (nước), đánh bắt cá đã liên kết cư dân thành làng xóm, tự nó đã mang tính chất “siêu ổn định”. Và như vậy, khi có làng thì người Việt đã biết sử dụng các loại ngư cụ như đó, lờ, te (xiệp), câu, đăng, đáy, ống lươn, vó bè, chài…để đánh bắt các loại thủy sản. Cho đến nay vẫn tồn tại ở Việt Nam.

Hơn nữa, Làng xã truyền thống có ba hình thái bố trí làng. Đó là bố trí theo lối co cụm, từng khối, hoặc dọc theo ven sông hay ở men theo hai bờ sông. Với chế độ tự cung, tự cấp của làng xã truyền thống thì khi xuất hiện làng thì đồng thời nghề đánh bắt cá ra đời sử dụng các công cụ nêu trên, đặc biệt đối với các làng ven sông, ven biển.

Nghề cá nhỏ ven bờ hình thành tại các làng do nhà nước chủ trì việc phá hoang lập ấp. Những làng thuộc loại này chủ yếu được hình thành ở các vùng ven biển thuộc Thái Bình và Ninh Bình. Vào cuối những năm 1820, Nguyễn Công Trứ với tư cách là quan dinh điền sứ đã có công rất lớn trong việc hình thành các làng mới tại hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Việc hình thành các làng mới, đặc biệt diễn ra mạnh mẽ ở phía Nam trong quá trình Nam tiến mở rộng biên cương, xác lập chủ quyền, cũng là lúc hình thành những điểm tụ cư trở thành làng (trong đó có Vạn chài, Làng chài) có sự hỗ trợ của chính quyền.

Nghề đánh bắt cá ra đời sớm nhất là ở Quảng Ninh. Kết quả khai quật ở nhiều di chỉ khảo cổ học ở vùng biển Hạ Long cho thấy nghề đánh bắt hải sản xuất hiện rất sớm, cách đây bốn, năm ngàn năm đến sáu, bảy ngàn nãm. Ðó là các hòm chỉ lưới bằng đất nung, các mũi nhọn, kim khâu bằng xương để đan lưới tìm thấy ở các di chỉ Soi Nhụ, Thoi Giếng, Ngọc Vừng, Hoàng Tân… hiện được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Quảng Ninh.

VỚI CÁCH TIẾP CẬN TỪ CÔNG CỤ, PHƯƠNG TIỆN ĐÁNH BẮT CÁ VÀ TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGHỀ CÁ CÓ THỂ PHÂN RA NHƯ SAU:

Vạn chài, làng chài và làng cá.

Vạn chài:

Nếu ở nội đồng, nông dân quần tụ với nhau thành các xóm ngõ tạo ra các quan hệ về địa vực hay quan hệ láng giềng với nhau thì cư dân vạn chài lại tụ thành các chòm trong các vụng. Đó là những nơi có mực nước nông, kín gió, thường được bao bọc bới các ngọn núi, dưới chân núi thường có các hang động (Vịnh Hạ Long) hay đầm phá Tam Giang (Thừa Thiên – Huế) để thuyền vào trú khi có bão lớn.

Vạn chài là nơi cư trú tập trung thành khu vực gắn bó với nhau cùng dòng họ thường ở quây quần bên nhau. Với phương tiện là thuyền nan không thể chịu sóng gió, bão tố, do vậy họ phải tụ cư thành các chòm trong các vụng, đầm phá nước nông, kín gió với tên gọi là Vạn chài.

Xưa kia quan niệm của cư dân trên bờ với cư dân vạn chài là những người vô gia cư, chết không có địa táng hay ở biển “phường nước mặn”, ít học và họ phải tụ cư lại tách khỏi đất liền thành Vạn chài. Do cuộc sống lênh đênh rày đây mai đó, thường xuyên “theo đuôi con cá”, ít có chữ nghĩa, lại lên bộ xuống nước bất chừng, nên cư dân sông nước ít nhớ rõ nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên xa xưa của mình, và rất khó giữ được sự ổn định lâu bền của cộng đồng.

Chính vì mặc cảm do kỳ thị, coi thường, xa lánh của cư dân trên bờ đã dần làm mối quan hệ này cách xa, cư dân vạn chài ngại lên bờ, họ chỉ lên khi cần thiết và lại trở lại với môi trường sống của mình. Điều này làm họ trở nên xa lánh đất liền và biển là nơi cư trú thường xuyên an toàn nhất với họ.

 

Tài sản lớn nhất của mỗi gia đình Vạn chài là chiếc thuyền,

vừa là nhà ở, vừa là phương tiện mưu sinh

 

Vạn chài Cửa Vạn

Theo những ý kiến của các nhà khoa học mà Ban Quản lý vịnh Hạ Long đã sưu tầm được, có ý kiến cho rằng họ là di huệ của những tổ tiên thu lượm hải sản và làm nghề chài lưới xuất hiện ở đây từ thời kỳ đồ đá mới thuộc nên văn hóa Hạ Long cách ngày nay từ 2.500 đến 5.999 năm. Nhà sử học Trần Quốc Vượng thì lại cho rằng: họ là hậu duệ của những tổ tiên người Đãn – Man, con cháu của những người bà con anh em họ Mạc Đăng Dung. Cư dân bản địa của Cửa Vạn chủ yếu là ở hai làng chài cổ xưa sinh sống ven khu Cửa Lục là Giang Võng và Trúc Võng.

Ở Vạn chài, gia đình là đơn vị xã hội nhỏ nhất, đơn vị kinh tế tự chủ. Mỗi gia đình có ít nhất một con thuyền vừa là nhà ở vừa là công cụ sản xuất đồng thời là phương tiện đi lại. Trường hợp gia đình gồm 3 thế hệ, có người già yếu thì phải sắm thêm một con thuyền nữa. Mỗi khi đánh cá do nghề nghiệp và môi trường của họ là đánh cá trên biển nên toàn bộ gia đình cả đời sống trên một con thuyền, các thành viên từ 7 - 8 tuổi trở lên đã trở thành một lao động thực thụ. Mỗi khi đánh cá người chống chèo lái, vợ hoặc con từ 10 – 11 tuổi trở lên chèo đằng mũi. Khi đánh lưới thì người vợ lái thuyền theo chiều lưới đánh để bát (đẩy chèo cho thuyền sang phải) hay cạy (kéo chèo vào cho thuyền rẽ trái), con cái giúp bố thả lưới hoặc kéo lưới bắt cá, cũng có thể giúp mẹ chèo thuyền. Thu cá xong, nếu không có thuyền buôn đến mua tại chỗ thì cả hai vợ chống hoặc vợ cùng con lớn lên bờ bán cá.

Vạn Chài Cửa Vạn hiện nay  (Quảng Ninh)

Cư dân vạn đò ở Huế

Từ đầu thế kỷ XIV, mặc dầu còn là miền biên viễn xa xôi của nước Đại Việt, nhưng ở Hóa Châu đã diễn ra quá trình tụ cư lập nghiệp của nhiều nhóm cư dân. Cho đến giữa thế kỷ XVI, sau hàng loạt các cuộc di dân từ phía Bắc vào hoặc được bổ sung tại chỗ từ nhiều nguồn khác nhau, ở lưu vực các dòng sông quanh Huế đã có con người tụ cư khá đông đảo cả trên bộ lẫn trên mặt nước (cư dân thủy diện). Dân cư vùng này đa phần có nguồn gốc từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, như Dương Văn An trong Ô châu cận lục viết năm 1553 mô tả là “tiếng nói hơi giống miền Hoan-Ái”. Họ có thể là dân chài lưới phía bắc di cư vào theo đường biển và cả đường bộ; là cư dân trên bộ do nghèo đói xuống nước làm ăn; là lính mãn hạn hay tù phạm hết hạn lưu đày tìm kế mưu sinh trên sông nước.                                 

Đến cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, khi Huế trở thành kinh đô, nhà nước phong kiến đã biên chế cư dân thủy diện thành từng “vạn” để dễ quản lý, và các vạn đò trên sông nước ở khu vực Huế cũng được thành lập.

  

      Vạn Lanh Canh trên sống Hương 2008 (Huế)         

Vạn đò trên sông Đông Ba - 2008

 

Cho đến nay, Vạn chài vẫn còn tồn tại như Vạn chài Cửa Vạn (Quảng Ninh) hoặc Vạn chài ở phá Tam Giang (Thừa Thiên – Huế), Cửa Sót (Hà Tĩnh).

Công tác quản lý Nhà nước đối với các hộ dân cư thủy cư là một vấn đề khó khăn, họ lãng quên mối quan hệ với chính quyền xã về mặt quản lý hành chính. Họ sống không khai sinh, chết không khai tử, cưới không cần đăng ký kết hôn. Có thể nói, mặc dù chỉ cách trung tâm thành phố khoảng hơn chục cây số nhưng cuộc sống của ngư dân thủy cư Vạn chài Hạ Long nói chung và ngư dân Cửa Vạn nói riêng, ngư dân phá Tam Giang là tách biệt hẳn với cư dân ven bờ. Cuộc sống của họ thua thiệt cả về kinh tế và văn hóa xã hội.

Vì Vạn chài sống lênh đênh trên biển, không gắn liền với chính quyền cùng cấp nếu có gắn cũng là hình thức để quản lý. Là vạn bao gồm dân chài sống trong các vụng không thành phe phái, không có bộ máy tự quản rõ nét. Về bộ máy hành chính: họ phụ thuộc vào cư dân trên bờ. Cả vạn chỉ có 1 Trưởng Vạn do lý trưởng trên bờ chọn để gánh vác trách nhiệm về sưu thuế, phu dịch của dân chài cho xã hội trên bờ. Loại tổ chức như vậy thấy rõ ở vùng Cửa Ông, Cái Rồng... hoặc phá Tam Giang (Thừa Thiên – Huế).

Mô hình tổ chức ở Vạn chài có một thiết chế của tổ chức phi quan phương (tổ chức xã hội nghề nghiệp như trường hợp xã An Vĩnh huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi hoặc vạn đò ở phá Tam Giang) với công cụ quản lý là hương ước bất thành văn.

Việc định cư ngư dân vạn chài  Cửa Van (Quảng Ninh), phá Tam Giang (Thừa thiên - Huế), Cửa Sót (Hà Tĩnh) đang tiến hành, vẫn còn nhiều khó khăn.

Làng chài

Đầu thê kỷ XVII, khi các lưu dân người Việt khai phá và định cư trên vùng đất mới ở phía Nam, ở các vùng ven biển, làng xóm nhanh chóng mọc lên gắn liền với lập Vạn chài. Nghề cá hoạt động mạnh và phát triển tập trung ở những vùng thuận lợi như Phan Rí, Mũi Né, Phố Hài, Nha Trang, Phú Yên... Trong quá trình phát triển của lịch sử Vạn chài mất dần vì các vùng biển phía Nam sóng to gió lơn lại nhiều cơn bão, ngư dân đánh bắt cá tụ cư trên đất liền –  “cư dân phi thủy cư” lập thành Làng chài. 

Đại bộ phận ngư dân ven biển sinh sống định cư trên đất liền thành các thôn làng, một hình thức tổ chức xã hội cơ bản như phần lớn cư dân nông nghiệp.   

 

Làng chài Khánh Hòa

Từ giữa thế kỷ XVII, khi các lưu dân người Việt khai phá và định cư trên vùng đất mới Khánh Hòa (bấy giờ là hai phủ Thái Khang và Diên Ninh), cùng với quá trình hình thành các cộng đồng người, các đơn vị hành chính làng xã, thì các nghề thủ công, đánh cá cũng được du nhập, hình thành và phát triển trên vùng đất này để đáp ứng các nhu cầu sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt của cộng đồng.

Nghề đăng truyền thống của Khánh Hòa là nghề nổi tiếng cả nước với gần 40 sở đầm vào thời cực thịnh, phân bố đều khắp từ mũi Đại Lãnh đến vịnh Cam Ranh.
Trải qua thời gian, lưới đăng đã trở thành một nghề truyền thống ở Khánh Hòa. Ngày nay, tuy có cải tiến lên nhiều nhưng phương pháp hành nghề vẫn căn bản theo lối cổ truyền

Ở phường Phương Sài, T.P Nha Trang nay vẫn còn bảo lưu địa danh Bến Trường Cá (thường gọi tắt là Bến Cá), xưa kia từng là một ngư cảng nhộn nhịp và phồn thịnh, được coi là một trong những nơi xuất phát nghề đầm đăng của Nha Trang. Những cư dân lâu đời của Phương Sài vẫn còn nhớ về nghề truyền thống của địa phương. Trong tâm trí của những người cao tuổi vẫn còn in đậm hình ảnh của những bạn chài áo đen sờn rách ngồi dọc theo con đường Phường Củi (nay là đường Phan Đình Giót) để đập vỏ dừa, vỏ mấu rồi xe, đan, kéo sợi… để có những tấm lưới đăng nặng nề, thô mộc, hay cảnh nhộn nhịp ở Bến Trường Cá mỗi khi có thuyền đăng chở cá vào bờ. Bến Trường Cá vừa sâu, vừa rộng, thuyền cá, thuyền buôn ra vào tấp nập. Sinh hoạt trên bến bãi nhộn nhịp suốt ngày đêm. Mỗi khi có thuyền cá từ khơi về đều có hiệu lệnh trống báo cho chủ đầm đăng và người mua biết. Miếu Ngư Nghệ Công Trường (công trường nghề cá) lúc đầu có tên là Nghệ Võng Công Trường (công trường nghề chài lưới), có lẽ được lập vào đời vua Tự Đức khi nghề đánh bắt xa bờ được phát triển, làm nơi cho ngư dân cầu xin, van vái trước khi xuất hành ra sông, ra biển. Ngày nay Bến Trường cá không còn nữa, dòng sông Cái bị bồi lắp.

Đầu thế kỷ XIX, thành phố Nha Trang ngày nay còn là một bãi biển hoang sơ với một làng chài vài mươi nóc nhà tranh ở xóm Cồn còn gọi là Làng chài Xóm Cồn.

Làng cá

Làng cá được ngụ ý một quần thể ngư dân làm nghề khai thác cá là chính, mang những sắc màu riêng trong sản xuất và sinh hoạt, trong truyền thống văn hóa và xã hội lấy khai thác cá làm sinh kế. Ngư dân ở đây được hiểu như những người làm nghề khai thác thủy sản có dùng các công cụ chuyên dùng. Thủy sản khai thác được là sản phẩm chính của họ, là nguồn thu nhập chính nuôi sống họ và gia đình họ. Khác với làng xã truyền thống (Vạn chài, làng chài), làng cá đương đại là nơi tập trung nhiều khả năng phát triển tiềm năng: nghề đánh cá, nuôi trồng thủy sản, nghề rừng, nghề nông, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch…

Đối với các làng cá đương đại, ngư dân sử dụng nhiều nghề đănh bắt cá ven bờ và xa bờ khác nhau đã được trình bày ở phần trên.

Vị trí các làng cá đa phần đều thuận tiện cho việc khai thác như gần ngư trường khai thác, bến bãi luồng lạch tốt, ít bị ảnh hưởng của sóng gió… Chính điều này đã phát huy tốt vai trò của làng cá. Cơ sở hạ tầng như cảng cá, bến cá được Nhà nước đầu tư đã góp phần cải thiện hạ tầng cơ sở vùng ven biển. Ngư dân có nơi để bốc dỡ sản phẩm và tiếp nhận nhiên liệu, nhu yếu phẩm....

6. Đặc trưng làng cá truyền thống và đương đại

TT

CÁC CHỈ TIÊU

LÀNG CÁ TRUYỀN THỐNG

LÀNG CÁ

ĐƯƠNG ĐẠI

VẠN CHÀI

LÀNG CHÀI

1

Cơ cấu tổ chức 

   - Gắn kết dòng họ, cùng nghề,    

  phong tục tập quán, tín ngưỡng,

  lối sống và thế giới tâm linh,

  nhưng rời rạc

 - Nghề đánh bắt thủy sản “cha truyền con nối”  thuộc “cư dân thủy cư”

   - Cư dân vạn chài tụ cư thành

   các nhòm trong các vụng, đầm

   phá nước nông, kín gió

 

- Gắn kết dòng họ, huyết thống, cùng nghề, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lối sống, thế giới tâm linh, chặt chẽ hơn

- Nghề đánh bắt thủy sản  “cha truyền con nối” thuộc “cư dân phi thủy cư”

- Ngư dân quần tụ thành làng

chài

- Gắn kết dòng họ, huyết thống, cùng nghề, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lối sống, thế giới tâm linh khá chặt chẽ. Lưu giữ các yếu tố gắn kết có tính cổ truyền

- - Nghề đánh bắt thủy sản “cha truyền con nối” thuộc “cư dân phi thủy cư”

- Ngư dân quần tụ thành làng cá

2

Quyền sử dụng vùng nước, sở hữu đất đai

- Sử dụng tự do

- Mỗi thuyền là một đơn vị sản xuất độc lập. Con thuyền là sở hữu duy nhất. Vợ chồng con cái đều sống trên thuyền 

- Không có đất trên đất liền

- Sử dụng tự do

- Mỗi thuyền là đơn vị sản xuất độc lập

- Có nhà trên đất liền. Chồng con (trai) đi đánh cá. Vợ ở nhà buôn bán cá...

- Chưa giao, có quy định vùng nước đánh bắt

- Mỗi thuyền là đơn vị sản xuất độc lập có hợp tác

- Có nhà trên đất liền. Chồng con (trai) đi đánh cá. Vợ ở nhà buôn bán cá...

3

Cơ chế tự quản và vai trò hương ước

- Phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức trên bờ (có 1 vạn trưởng do lý trưởng chỉ định), không có bộ máy tự quản, nhà nước không quản lý được

- Có chế độ tự quản

- Có Hương ước. Vai trò của hương ước không cao như nội đồng

- Chế độ tự quản chưa hoàn chỉnh (cấp xã hay cấp thôn?)

- Hương ước mới và Quy chế dân chủ ở cơ sở

4

Các thiết chế tự quản

- Một thiết chế (phi quan phương + hương ước bất thành văn theo công thức 1 + 1

  - Đăng ký sổ thuyền

- Hai thiết chế như nội đồng: Hội đồng kỳ mục và Hội đồng lý dịch theo công thức 2 + 1

- Quan phương (chỉ 1 thiêt chế của nhà nước, nhưng có hương ước để tự quản)

5

Phương pháp quản lý nghề cá

Tiền thuộc địa

Tiền thuộc địa (tập trung)

Tiền thuộc địa (tập trung)

 

Nhận xét chung về đặc trưng làng cá truyền thống và đương đại:

1)    Về cơ cấu tổ chức:

Làng cá truyền thống (Vạn chài, Làng chài) và đương đại đều có chung đặc điểm là gắn kết theo dòng họ, cùng nghề, cùng tín ngưỡng, lối sống và thế giới tâm linh, nhưng ở Vạn chài do không gắn kết với đất liền nên có rời rạc hơn so với làng chài và làng cá truyền thống. Đặc điểm chung nhất nghề đánh bắt cá là “cha truyền con nối”, trong quá trình khai khai thác dấu ngư trường ngay cả người thân trong gia đình. Ngư dân vạn chài bị kỳ thị, còn ngư dân làng chài và làng cá đương đại định cư trên đất liền do vậy việc kỳ thị không còn, họ sống hòa đồng với cư dân trên bờ.

Đại bộ phận ngư dân ven biển sinh sống định cư trên đất liền thành các thôn làng, một hình thức tổ chức xã hội cơ bản như phần lớn cư dân nông nghiệp khác. Trước nhất, làng/thôn là điểm tụ cư của ngư dân ở ngay trên bãi cát sát biển hay lùi xa vào phía trong bãi một chút. Kết cấu nghề nghiệp của cư dân trong làng cũng rất đa dạng, họ vừa đánh bắt cá vừa làm nông nghiệp, nghề muối, thủ công, buôn bán. Tuy hình thức bề ngoài làng ngư dân có đôi chút khác biệt với làng nông dân, nhưng cách thức phân chia thành xóm, ngõ, phe giáp, phường, các công trình kiến trúc công cộng cũng tương tự, như đình, đền, chùa và một số nơi có cả nhà thờ công giáo. So với các làng nội địa thì làng ven biển của ngư dân có nhiều nhà thờ công giáo hơn, do họ là bộ phận sớm tiếp thu đạo Kitô và có tỉ lệ dân cư theo đạo Kitô cao hơn so với các làng sâu trong đồng bằng (đặc biệt ở phía Bắc).

Ngày nay, nghề cá vẫn là nghề phụ trong các xã ven biển. Chỉ có thôn biển là thuần ngư, còn xã biển thì gồm nhiều thôn làm nông nghiệp hơn thôn thuần ngư.

Tín ngưỡng và lễ hội dân gian cư dân làng cá truyền thống và đương đại rất đa dạng và phong phú, nhưng đặc trưng nhất là lễ hội cầu ngư là lễ hội cầu mùa, mà đường dây tạo ra nó chính là niềm tin của ngư dân về sự phù trợ của ngư thần: Ngư Ông - cá voi.

       2) Quyền sử dụng vùng nước và sở hữu đất đai:

 Mỗi thuyền là một đơn vị sản xuất độc lập.

- Quyền sử dụng vùng nước: Tự do. Đối với Làng cá đương đại cũng tự do, mặc dù Nhà nước có quy định vùng khai thác.

- Sở hữu đất đai: Ngư dân Vạn chài không có đất, chỉ sống trên thuyền, ngư dân làng chài và làng cá đương đại định cư trên đất liền. Họ sở hữu đất chủ yếu để làm nhà ở.

3) Cơ chế tự quản và vai trò hương ước:

Đối với Van chài: Phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức trên bờ (có 1 vạn trưởng do lý trưởng chỉ định), hoặc tự quản bởi tổ chức của họ cùng với công cụ quản lý: Hương ước bất thành văn theo công thức 1 + 1.

Tổ chức các làng chài đều có cơ chế tự quản theo công thức 2+1 – Hội đồng kỳ mục và hội đồng lý dịch + công cụ quản lý là hương ước như các làng xã nội đồng.

Nhìn chung, cả hai hội đồng kỳ mục và lý dịch ở làng chài không nhiều việc như ở nông nghiệp, vì cuộc sống của cư dân làng chài, do môi trường và nghề nghiệp của họ nên việc hành chính không nhiều, nguồn thu không lớn.

Trong các làng chài của ngư dân vẫn sử dụng hương ước như một loại luật của làng xã. Trong đợt khảo sát thực địa ở làng Vạn Ninh (Móng Cái) của nhóm nghiên cứu GS.TS Ngô Đức Thịnh (Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian Việt Nam; Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa Tín ngưỡng Việt Nam) đã phát hiện được bản hương ước của làng hiện lưu tại thư viện Khoa học Xã hội Hà Nội, đã sao và tặng lại cho làng và các cụ trong làng đón nhận như một bảo vật của tổ tiên. Bản hương ước làng Trà Cổ cũng được phát hiện trong các dịp sưu tầm thực địa của đoàn vào thập kỷ 70. Còn bản hương ước làng Cảnh Dương (Quảng Bình) thì vẫn được các bô lão trong làng gìn giữ và đã cung cấp cho nhóm nghiên cứu khi tới làm công tác thực địa.

Cách đây 600 năm, trong hương ước của làng Quỳnh Lôi thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An có ghi “Trong đầm (của làng), từ nay về sau ai đánh cá thì được dùng lưới thưa, cấm dùng lưới dày, ai không tuân thì làng xé lưới, đưa về đình đốt (điều 13, mục Khoán làng).

Tại Nam bộ, vào đầu thế kỷ XIX Trịnh Hoài Đức cho biết, nhiều vùng ở Thất Sơn đã có dân làm nghề chài lưới. Các dân làm nghề chài lưới ở sông Tiền và sông Hậu thuộc An Giang cũng được ghi nhận trong Khâm định Đại Nam hội điễn sự lệ. Mặc dù hoạt động riêng lẽ nhưng họ cũng chịu sự kiểm soát và phải đóng thuế cho triều đình. Việc quản lý nghề cá ngoài ý nghĩa thu thuế ra còn có một điểm tích cực là nhà nước chú ý tới việc bảo tồn nguồn lợi thủy sản qua hai chính sách:

Một là, nhà nước quy định chặt chẽ về kích thước các dụng cụ đánh bắt. Một lỗ chài, một “cụ” lưới, một kẻ đăng….đều có ni tấc hẳn hoi nhằm cho phép các loại cá con, cá chưa đủ kích cỡ để khai thác có thể thoát qua dễ dáng.

Hai là, lúc nước mới chạy vào kênh, rạch để tràn đồng thì Cai tuần, Phó tổng, lý trưởng…đều canh chừng rất kỹ các miệng rạch, mương và xử phạt rất nặng những người đánh bắt cá vì đây là thời điểm cá mang trứng tràn vào đồng để đẻ trứng.

Vấn đề bảo vệ an ninh, khác với các làng xã trên bờ, làng chài không có điểm canh phòng. Khi phiên tuần đi tuần phải sử dụng thuyền công của làng hay thuyền tư của các gia đình được cắt cử đưa ra làm việc công.

Tại các làng cá đương đại cơ chế tự quản chưa hoàn chỉnh như làng xã nội đồng. Tuy nhiên, Hương ước cũ cũng như hương mới chỉ đề cập đến bảo vệ môi trường, không có cụ thể hóa về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, mặc dù trước khi có Luật Thủy sản năm 2003 đã có các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản của Bộ Thủy sản và được cụ thể hóa ở các tỉnh ven biển.

Kết quả nghiên cứu Hương ước thôn Tân Đảo (thôn biển) thuộc xã Ninh ích, huyện Ninh Hòa được Chủ tịch UBND xã Ninh Ích phê duyệt vào ngày 6/5/1998 cho thấy đây là bảng quy ước làng được xây dựng khá công phu và đúng quy định. Quy ước làng văn hóa thôn Tân Đảo gồm 4 chương và 20 điều, nhưng không có điều nào đề cập đến Chỉ thị 26/CT/UB ngày 1/6/1994 của UBND tỉnh Khánh Hòa V/v nghiêm cấm sử dụng các nghề cấm như giã cào, giã nhũi, xiết điện trong đầm Nha Phu. Điều này cho thấy vai trò của hương ước trong các làng xã ven biển đương đại vẫn còn rất mờ nhạt đối với công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

        4) Các thiết chế tự quản

Đối với Vạn chài chưa có cơ chế tự quản như nội đồng, tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng vạn là một tổ chức xã hội nghề nghiệp (phi quan phương) và công cụ quản lý là hương ước bất thành văn theo công thức 1 + 1.

Tại các làng cá đương đại cơ chế tự quản chưa hoàn chỉnh như làng xã nông nghiệp.       

        5) Phương pháp quản lý nghề cá

Theo Patrick Chrick (1997), Trường Đại học Môi trường và Nguồn lợi Tự nhiên Michigan (Mỹ) thì lịch sử phát triển của các phương pháp quản lý nghề cá nhỏ ven bờ ở các nước nhiệt đới thì thời phong kiến là phương pháp quản lý Tiền thuộc địa: Dựa vào tư liệu lịch sử của chính quyền địa phương; Những điều quan sát thấy để kiểm soát khai thác quá mức; trong thời thuộc địa (các nước nhiệt đới phần lớn đều là thuộc địa của các nước Châu Âu; Việt Nam thuộc địa của Pháp…) sử dụng phương pháp quản lý Thuộc địa - tập trung (Chính phủ trực tiếp quản lý thông qua các cơ quan chức năng (Ty Hải sản …) và ngày nay Việt Nam vẫn đang sử dung phương pháp quản lý tập trung (Sở Nông nghiệp&PTNT, Chi cục Khai thác và BVNLTS, Thành tra chuyên ngành); phương pháp quản lý dựa trên cơ sở cộng đồng (dưới lên) và phương pháp đồng quản lý (dưới lên – trên xuống). Điều này có thể thấy răng ở Việt Nam duy trì phương pháp quản lý tập trung quá lâu, trong khi đó vào đầu thập niên 80 thế kỷ XX Philippines đã bắt đầu triển khai thành chương trình quốc gia.

7. Kết luận:

1) Thiết chế tự quản của Vạn chài bao gồm một tổ chức phi quan phương (tổ chức xã hội nghề nghiệp) và một công cụ quản lý đó là hương ước bất thành văn và được mô hình hóa như sau:

         CÔNG THỨC 1 + 1

2) Làng chài có cơ cấu tổ chức tự quản như làng xã nông nghiệp truyền thống theo công thức 2 + 1

3) Làng cá đương đại có cơ chế tự quản như các làng xã nông nghiệp, theo công thức  1 thiết chế quan phương, thiếu 1 thiết chế phi quan phương  + 1 công cụ quản lý là hương ước và QCDC đã đề cập ở Kỳ 2: Nghiên cứu thiết chế quản lý và cơ chế tự quản làng xã truyền thống và đương đại ở Việt Nam.

4) Đặc trưng cơ bản nhất của truyền thống các làng xã ven biển là sự kết hợp, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất nông nghiệp và hoạt động đánh bắt hải sản. Nói cách khác, việc khai thác thủy hải sản chỉ là một bộ phận trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, đáp ứng nhu cầu tự cấp tự túc mang tính địa phương của người nông dân.

5) Ngày nay, nghề khai thác biển đã dần tách ra khỏi cơ cấu của nền nông nghiệp tự cấp tự túc, sản xuất nhỏ truyền thống và trở thành ngành sản xuất hàng hóa độc lập, đáp ứng nhu cầu không chỉ thị trường trong nước mà quan trọng hơn là thị trường quốc tế. Nhưng nghề cá nhỏ ven bờ vẫn còn mang nhiều đặc trưng của nghề cá truyền thống về phương pháp đánh bắt, trao đổi hàng hóa, về vật  liệu chế tạo tàu thuyền, tín ngưỡng…

8. Thảo luận

1) Đột phá về công nghệ:

Trong lịch sử phát triển nghề đánh bắt cá của Việt Nam đã có 3 lần đột phá về công nghệ:

- Vào đầu thế kỷ XX (thời Gia Long), ghe bầu Quy Nhơn được đánh giá rất cao: "Quy Nhơn có nhiều ghe bầu đóng bằng gỗ có sức chứa lớn, độ bền cao, có thể đi lại nhiều ngày trên biển cả”. Như vậy, là đã có cải tiến, phần mê đà chuyển sang làm bằng gỗ không còn là nan tre nữa. Sau đó, một lần cải tiến nữa là không đóng theo thuyền 2 đầu nhọn mà có hình dáng như tàu: đít bằng, mũi rẽ sóng và tồn tại cho đến ngày nay. 

- Vào giữa thập niên 60 thế kỷ XX ở miền Bắc Việt Nam đã hình thành đội tàu lưới giã hiện đại, đặc biệt là khối tàu Việt Xô lắp máy 1.000CV thu đuôi có ván trượt, có hệ thống lạnh cấp tốc và hầm bảo quản - 200C, còn ở miền Nam Việt Nam tàu thuyền đánh bắt cá đã được cơ giới hóa với công suất từ 20 đến 45CV do viện trợ của Nhật Bản. Và sau khi miền Nam giải phóng tất cả các tỉnh ven biển đều có đội tàu tương đối hiện đại với lực lượng sản xuất có trình độ được đào tạo bài bản, với nghề giã cào là chủ yếu (giã đơn, giã đôi) cũng đã góp phần vào việc làm suy thoái nguồn lợi ven bờ. Đội tàu này bị giải thể khi chuyển sang kinh tế thị trường và chỉ còn nghề cá nhân dân.

- Trước năm 1975, nguyên vật liệu làm lưới chủ yếu sử dụng sợi bông, xơ tự nhiên, đến thời kỳ 1976 - 1980 được thay thế bằng sợi cước, ni lông.

Mặc dù, đã có những đột phá công nghệ trong nghề đánh bắt cá như trên, nhưng tàu thuyền đánh cá chủ yếu làm bằng vật liệu gỗ là một trở ngại lớn trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa nghề cá. Việc sử dụng tàu võ gỗ, kể cả vật liệu composite cũng không thể có chiều dài quá 30m thì khồng thể áp dụng những công nghệ bảo quản sau thu hoạch hiện đại như lạnh đông cấp tốc kết hợp với hầm bảo quản – 20 độ C, hoặc lạnh sâu hơn gây lãng phí lớn tài nguyên.

2) Về phương thức sản xuất:

- Theo C. Mac: Phương thức sản xuất bao gồm quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, nếu quan hệ sản xuất lỗi thời sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tiêu chuẩn căn bản để xem xét một quan hệ sản xuất nhất định có phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất hay Tiêu chuẩn căn bản để xem xét một quan hệ sản xuất nhất định có phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất hay không là ở chỗ nó có thể thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân và tạo điều kiện thực hiện công bằng xã hội hay không.

- Giai đoạn 1976 - 1980 là thời kỳ thoái trào đối với ngành thủy sản, cũng giống như ngành nông nghiệp cả nước áp dụng 1 phương thức sản xuất mang tính duy ý chí trái với quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất: chỉ có kinh tế tập thể (HTX) và Quốc doanh.

- “Khoán 10”, “nghề cá nhân dân” trong những thập niên qua đã có tác dụng làm phát triển ngành nông nghiệp và thủy sản, xuất khẩu được nhiều tỷ USD, nhưng người nông, ngư dân vẫn nghèo vì chất lượng lúa gạo, nguồn lợi cá ven bờ cạn kiệt, nghề cá xa bờ do công nghệ bảo quản sau thu hoạch lạc hậu làm lãng phí tài nguyên hàng năm từ 40 - 50% tổng sản lượng thủy sản khai thác được. Điều đó chứng tỏ đang tồn tại một phương thức sản xuất lạc hậu bởi lẽ quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.

Điều này đặt ra một vấn đề là cần có 1 phương thức sản xuất phù hợp hơn đối với ngành nông nghiệp nói chung và ngành thủy sản nói riêng trong đó có nghề khai thác xa bờ và nghề cá nhỏ ven bờ. Trong bài này chúng tôi chỉ đề cập đến nghề cá nhỏ ven bờ.

Thực trạng nghề cá nhỏ ven bờ đang tồn tại một phương thức sản xuất lạc hậu.

Để nghề cá ven bờ phát triển bền vững cần thiết xây dựng một phương thức sản xuất tiến tiến hơn. Đó là:

1. Về quan hệ sản xuất:

- Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất:  Từ cá thể chuyển sang hợp tác sản xuất với các nghề thân thiện với môi trường thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Thủy sản thông qua hương ước (hoặc quy chế).
- Quan hệ trong tổ chức và quản lý: Quan hệ giữa con người với con người trên cơ sở làng xã truyền thông theo công thức 2 + 1  là cơ sở để xây dựng các Làng cá văn hóa. Nội dung chính là hoàn thiện cơ chế tự quản hiện nay để chuyển từ phương pháp quản lý tập trung sang phương pháp đồng quản lý.

- Quan hệ phân phối lưu thông: Trong tổ chức của họ phải tập hợp các đầu nậu để xâu chuỗi các giá trị trong phân phối và lưu thông sản phẩm đánh bắt và nuôi trồng.

2. Về lực lượng sản xuất:

- Quan hệ với tự nhiên: Tài nguyên thiên nhiên (Hệ sinh thái bao gồm rạn san hô, rừng ngập măn, cỏ biển, nguồn lợi thủy sản) là của tập thể cộng đồng, Nhà nước giao cho cộng đồng sử dụng và quản lý thông qua tổ chức của họ theo cơ chế tự quản. Nâng cao năng lực cho cộng đồng để có thể đảm đương được các công việc tự quản. Nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với nguồn lợi ven biển….

- Công cụ lao đồng: Phát triển các nghề khai thác thân thiện với môi trường. Nghiêm cấm sử dụng các nghề câm. Tiếp nhận các công nghệ khai thác và nuôi trồng có hiệu quả thân thiện với môi trường để tạo sinh kế mới và chuyển đổi nghề nghiệp cho cộng đồng.

- Mặc dù ngư dân có trí thức bản địa phong phú, nhưng phải nâng cao trình độ hiểu biết, phát huy kinh nghiệm, kỹ năng, năng lực, ứng dụng các tiến bộ KHKT mới trong khai thác và nuôi trồng thủy sản với phương châm vừa khai thác vừa khôi phục, bảo vệ hệ sinh thái của vùng nước được giao.

3. Vai trò của Nhà nước:

- Nhà nước giúp cộng đồng tạo ra các sinh kế đan xen tại vùng nước được giao để họ có thu nhập, chuyển sang các nghề thân thiện với môi trường, có điều kiện xâu chuỗi các giá trị trong sản xuất của nghề cá ven bờ.

- Hỗ trợ thể chế để xây dựng một phương thức sản xuất mới.

Tóm lại người lao động nghề cá từ là đối tượng bị quản lý trở thành chủ thể quản lý là nhân tố quyết định sự thành công của phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn có sự hỗ trợ (thể chế, tài chính) và hướng dẫn của Nhà nước.

 

Kỳ 4: ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ LÀ MỘT PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT MỚI GẮN VỚI VIỆC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ QUẢN TRONG CÁC LÀNG CÁ ĐƯƠNG ĐẠI VÀ VAI TRÒ CỦA HỘI NGHỀ CÁ VIỆT NAM, HỘI NGHỀ CÁ KHÁNH HÒA

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1) Bách khoa thủy sản, Hội Nghề cá Việt Nam. Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội 1997

2) Ghe Bàu và Về Thủy-trình Cận - duyên lúc Xưa, Vũ Hữu San

3) Nghề đan thuyền nan ở Hưng Học, Thu Nguyên

4) Khép lại trang sử cư dân vạn đò Huế, Nguyễn Quang Trung Tiến

5) Dư địa chí Quảng Ngãi www.quangngai.gov.vn

6) Lưới đăng - Nghề biển truyền thống ở Khánh Hoà, Bài viết của Nguyễn Man Nhiên

7) Tìm hiểu tài nguyên du lịch ở làng Chài Cửa Vạn. Hiện trạng và giải pháp khai thác phát triển du lịch www.luanvan.net.vn
8)
Công ty TNHH đóng tàu Đại Dương http://www.dongtaudaiduong.com

9) Quy trình đóng tàu vỏ composite. Viện NCCT Tàu thủy Trường Đại học Nha Trang

10) 50 năm thủy sản Việt Nam. TS. Ngô Anh Tuấn

11) Nghề cá Việt Nam và những cái khó cố hữu, Tạ Quang Ngọc, nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy sản

12) Lênh đênh những xóm làng chài trên vịnh Hạ Long, www.giatri.tinmoi.vn

13) Truyền thống văn hóa biển cận duyên của người Việt. Ngô Đức Thịnh

14) Quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ TCSCĐ tại các thôn biển của xã Ninh Ích, h. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Th.S Võ Thiên Lăng, năm 2001)

15)Triết học Mác - Lênin

16) Hơn 600 năm trước đã có hương ước bảo vệ môi trường. Đặng Bá Tiến
17) Quá trình hình thành và phát triển nghề cá Bình Thuận. binhthuantoday.com

18) Những quy ước bất thành văn của vạn đò phá Tam Giang. Đặng Lan Thường

19) Vai trò của vạn chài đối với cộng đồng cư dân huyện đảo (Trường hợp xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi). Lê Mộng Thy Nhân

20) Nghề đánh bắt thủy sản ở An Giang xưa và vùng phụ cận trong thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Trần Hoàng Vũ

 

 

ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ LÀ MỘT PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT MỚI GẮN VỚI VIỆC HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ QUẢN TRONG CÁC LÀNG CÁ ĐƯƠNG ĐẠI VÀ VAI TRÒ CỦA HỘI NGHỀ CÁ VIỆT NAM, HỘI NGHỀ CÁ KHÁNH HÒA (Kỳ 4)

A. Dự án CRSD - Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững

Theo Patrick Christe (1997) của Trường ĐHTH Môi trường và Nguồn lợi Tự nhiên Michigân (Mỹ) thì lịch sử phát triển các phương pháp quản lý nghề cá nhỏ ven bờ ở các nước nhiệt đới bao gồm: quản lý tiền thuộc địa; Quản lý tập trung (thuộc địa); Quản lý trên cơ sở cộng đồng; Đồng quản lý (ĐQL).

Như vậy, có thể coi ĐQL là phương pháp quản lý tiến bộ nhất đến thời điểm hiện nay. Ngày 7/6/2010, Tổng cục Thủy sản ban hành Quyết định số 67/QĐ-TCTS-KTBVNL V/v Ban hành hướng dẫn về ĐQL nghề cá tại Việt Nam. Sau thời gian tích cực chuẩn bị với sự tham gia của các Bộ, ngành Trung ương, các địa phương và Ngân hàng Thế giới (WB), ngày 09/8/2012, Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD) từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB) đã được ký kết. Mục tiêu tổng quát của Dự án là cải thiện công tác quản lý nghề cá ven bờ theo hướng bền vững tại các tỉnh duyên hải được lựa chọn của Việt Nam. Mục tiêu cụ thể đạt được thông qua (a) Tăng cường năng lực thể chế cho ngành thủy sản trong việc quản lý bền vững các nguồn lợi; (b) Thúc đẩy các biện pháp thực hành tốt trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) bền vững; và (c) Thực hiện các quy trình thực hành tốt vì sự bền vững của ngành đánh bắt thủy sản ven bờ.

 KHÁI NIỆM ĐQL (theo Dự án: Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững - CRSD):

         - ĐQL có thể hiểu là một thỏa thuận thiết lập quan hệ đối tác giữa cộng đồng ngư dân (những người sử dụng nguồn lợi địa phương), chính quyền và các bên cớ lợi ích liên quan khác (chủ tàu, thương lái, cơ sở đóng tàu, những người kinh doanh thủy sản…) nhằm chia sẻ trách nhiệm và quyền quản lý khai thác thủy sản.

         - ĐQL là quá trình dựa trên sự đồng thuận của các bên nhằm công nhận các giá trị, nhu cầu, quan tâm và lợi ích của các bên khác nhau có liên quan đến quản lý nguồn lợi. Các quan hệ đối tác, vai trò và trách nhiệm của các bên được duy trì, củng cố và được điều chỉnh lại vào các thời điểm khác nhau trong quá trình ĐQL: phụ thuộc vào nhu cầu và các cơ hội, môi trường pháp lý, sự ủng hộ về mặt chính trị, năng lực và sự tin tưởng lẫn nhau của các bên. Quá trình ĐQL có thể bao gồm việc thành lập một cách chính thức/không chính thức các tổ chức của ngư dân và của các bên liên quan khác. ĐQL đòi hỏi phải có thỏa thuận chính thức/không chính thức giữa các bên tham gia để chia sẻ quyền lực và quyền quản lý nguồn lợi.

Cách tiếp cận ĐQL của Dự án:

       - Áp dụng việc giao quyền khai thác thủy sản cho ngư dân địa phương để những người sử dụng nguồn lợi có động lực quản lý bền vững nguồn lợi thủy sản và chấm dứt tình trạng “khai thác tự do” trong hoạt động đánh bắt thủy sản.

       - Sẽ xây dựng kế hoạch ĐQL cụ thể cho từng xã thông qua quá trình tham vấn và có sự tham gia của người dân, trên cơ sở các điều kiện tự nhiên và xã hội của địa phương.

      Các đặc điểm ĐQL của Dự án

       - Công bằng

Công bằng và chia sẻ công bằng quyền lực giữa chính quyền, ngư dân và các bên có lợi ích liên quan khác trong cộng đồng là những vấn đề quan trọng trong ĐQL. Ngư dân sẽ được trao quyền để chủ động tham gia vào lập kế hoạch và thực hiện ĐQL. Trách nhiệm nghĩa là ngư dân được tham gia vào quá trình ra quyết định và cùng chịu chi phí và hưởng lợi ích từ những quyết định đó.

- Tài sản chung

ĐQL đưa ra chế độ sở hữu tập thể đối với nguồn lợi chung. Chế độ sở hữu chung này gồm các nội dung như các nhóm sử dụng nguồn lợi được công nhận, nguồn lợi mà nhóm sử dụng và quản lý được xác định rõ ràng, và một loạt những thỏa thuận về thể chế cho sử dụng nguồn lợi.

- Hoạt động tập thể

Các thỏa thuận về thể chế sẽ xác định các quyền của ngư dân và các quy tắc mà ngư dân phải tuân theo trong việc sử dụng nguồn lợi. Các ngư dân sẽ nhóm họp với nhau để thương lượng về việc từ bỏ một số lợi ích cá nhân để đảm bảo chung rằng nguồn lợi sẽ được sử dụng một cách công bằng và bền vững hơn.

- Quản lý thích ứng

Chế độ sở hữu chung và các thể chế liên quan cần linh hoạt để điều chỉnh phù hợp với các bối cảnh mới, các cơ hội mới, phát triển nội tại và các yếu tố bên ngoài.

Giới thiệu tóm tắt dự án CRSD – Hợp phần C: Quản lý bền vững khai thác thủy sản ven bờ

Ø  Mục tiêu: Hiệp hội phát triển quốc tế/Ngân hàng thế giới sẽ cung cấp một khoản tín dụng bằng Quyền Rút vốn Đặc biệt  (SDR) tương đương 100 triệu USD từ nguồn vốn vay đầu tư phát triển cụ thể (SIL) để tài trợ cho Dự án: Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững. Mục tiêu phát triển của dự án là tăng cường quản lý bền vững nguồn lợi thủy sản (NLTS) ven biển tại các tỉnh Dự án.

Ø  Chỉ  số theo dõi, đánh giá: Tăng tỉ lệ diện tích các khu vực ven biển có áp dụng hệ thống quản lý NLTS ven bờ theo hướng bền vững.

Ø  Thời gian thực hiện: Từ tháng 06/2012 đến tháng 6/2017.

Hợp phần C: Quản lý bền vững khai thác thủy sản ven bờ tỉnh Khánh Hòa

Tiểu hợp phần C1 ĐQL hoạt động khai thác thủy sản (KTTS) ven bờ.

Dự án hỗ trợ chính quyền địa phương và các cộng đồng ngư dân tại các huyện, xã và xã được lựa chọn trên địa bàn các tỉnh Dự án thực hiện ĐQL khai thác thủy sản ven bờ, trong đó gồm có:

       Ø  Hỗ trợ các cộng đồng ngư dân địa phương chuẩn bị và thực hiện các kế họach ĐQL.

       Ø  Tăng cường năng lực các hệ thống theo dõi, kiểm soát và giám sát của Bộ NN&PTNT và các tỉnh Dự án

       Ø  Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đã·lựa chọn cho người dân tộc thiểu số và/hoặc các cộng đồng địa phương để cải thiện sinh kế.

Tiểu hợp phần C2   Cải tạo các cảng cá, bến cá và chợ cá.

 

v TIỀN KHẢ THI

1. LỰA CHỌN XÃ THÍ ĐIỂM

  TT

Các tiêu chí

Nội dung

   1

Tiêu chí sinh học/hệ sinh thái

- Giá trị đa dạng sinh học cao

- Nguồn lợi có dấu hiệu suy giảm

   2

Số lượng tàu  đánh cá nhỏ

- Tổng số tàu thuyền đánh cá

- Số tàu <20CV

- Số ngư cụ kém bền vững

   3

Tiêu chí  xã hội

- Cam kết cao để thực hiện

- Kinh nghiệm trước đó về ĐQL

- Phụ thuộc nhiều vào NLTS là nguồn thu nhập chính

- Nhóm dễ bị tổn thương

   4

Tiêu chí  kinh tế

 

- Tiềm năng để tạo ra lợi nhuận nhanh chóng từ thủy sản tái sinh

- Tiềm năng của sinh kế thay thế bao gồm cả NTTS

- Khả năng tiếp cận

- Khả năng tiêu thụ

   5

Hỗ trợ chính quyền địa phương

 

 

2. QUY HOẠCH KHÔNG GIAN TỔNG HỢP KHU VỰC VEN BIỂN

Quy hoạch không gian ven biển là một trong những vấn đề chính ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển bền vững của ngành thủy sản là hợp phần riêng.

-  Quy hoạch không gian tổng hợp đòi hỏi có sự tham gia của nhiều ngành (như NTTS, KTTS, du lịch, nông thôn và phát triẻn nông thôn và đô thị, cơ sở hạ tầng, năng lượng….) để xây dựng các kế hoạch phát triển ngành thủy sản đảm bảo tính thống nhất trong quy hoạch đa ngành ở vùng nước ven bờ.

-  Quy hoạch không gian tổng hợp chỉ giới hạn trong khu vực ven bờ trong vòng 6 hải lý từ bờ trở ra biển.

-  Phân giới vùng biển thuộc quản lý của xã thí điểm.

3. XÂY DỰNG HỒ SƠ CỘNG ĐỒNG

 Hồ sơ cộng đồng gồm 5 phần (theo đề cương xây dựng hồ sơ cộng đồng):

      - Đánh gía về các tài nguyên ven bờ.

      - Đánh gía về kinh tế – xã hội.

      - Đánh gía việc thi hành luật pháp (văn bản quy phạm pháp luật); Quy chế/Quy ước/Hương ước (do cộng đồng lập).

      - Đánh gía các vấn đề tồn tại, nhu cầu và cơ hội của cộng đồng.g.

      - Quản lý các vấn đề tồn tại và cơ hội.

v KHẢ THI

1. TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG  

Tổ chức này có thể được gọi là HTX, hiệp hội, hay tổ chức của ngư dân…Cần có sự xem xét, đánh gía các tổ chức ngư dân sẵn có trong cộng đồng bởi những tổ chức này có thể có đủ năng lực để thực hiện ĐQL hoặc chỉ cần nâng cao năng lực là được. Tổ chức cộng đồng phải có đủ điều kiện tự quản.

2. THỰC HIỆN KẾ HOẠCH ĐÃ THỐNG NHẤT

2. 1.  QUẢN LÝ NGUỒN LỢI

Bao gồm các hoạt động để quản lý, bảo vệ, bảo tồn, phục hồi, điều tiết và tăng cường nguồn lợi biển và ven biển.

2. 2. PHÁT TRIỂN KINH TẾ/SINH KẾ VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Bao gồm các hoạt đồng nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống, tạo công ăn việc làm thông qua phát triển sinh kế bổ sung và thay thế. Việc này sẽ giải quyết cả nhu cầu cá nhân và nhu cầu gia đình, cũng như các nhu cầu của cộng đồng như phát triển CSHT và các dịch vụ cho xã hội, phát triển DN, và phát triển kinh tế vững bền gồm phát triển thương mại và công nghiệp. 

2. 3. TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC

- Bao gồm việc trao quyền và lôi kéo sự tham gia của cộng đồng. 

- Giáo dục, đào tạo, phát triển tổ chức và năng lực lãnh đạo cho các cá nhân ngư dân (cả nam lẫn nữ) và các tổ chức ngư dân.

2. 4. HỖ TRỢ THỂ CHẾ/HÌNH THÀNH MẠNG LƯỚI/PHỔ BiẾN CHÍNH SÁCH

Bao gồm cơ chế quản lý mâu thuẫn/xung đột, thiết lập các mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, học tập  tương tác, hỗ trợ pháp lý, phát triển các chính sách, tổ chức lại quản lý, hình thành mạng lưới vói các cộng 

 đồng và tổ chức khác, diễn đàn chia sẻ thông tin, xây dựng và tăng cường thể chế.

3. GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG, XÂY DỰNG NĂNG LỰC VÀ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

Cần tăng cường nhận thức về môi trường cho cộng đòng cũng như cán bộ tỉnh, huyện, xã thí điểm, các thành viên cộng đồng và cho các cán bộ chính quyền để:

- Hiểu rõ hơn sự cần thiết phát triển ĐQL, tiếp cận về ĐQL và các vai trò cá nhân, tập thể trong ĐQL.

- Tạo ra sự thay đổi tích cực về giá trị và ứng xử theo hướng bảo vệ môi trường.

- Nhận được sự ủng hộ cho ĐQL.

- Tăng kiến thức và kỹ năng cho ngư dân và các bên có lợi ích liên quan khác.

- Tăng cường sự tham gia vào ĐQL dựa vào cộng đồng.

- Giúp các thành viên cộng đồng khẳng định quyền lợi trong việc sử dụng và quản lý nguồn lợi.

4. CÔNG KHAI

-  Kế hoạch hoạt đồng, các hoạt đồng, tiến độ và kết quả cần được công bố công khai cho cộng đồng và công chúng.

5. QUẢN LÝ MÂU THUẪN

-  Mâu thuẫn có thể phát sinh do nhiều nguyên nhân và cấp độ khác nhau. Mâu thuẫn trong nghề cá và nguồn lợi biển có nhiều chiều hướng khác nhau bao gồm: quyền lực, chính trị, giới, tuổi tác và dân tộc. Mâu thuẫn có thể xảy ra ở phạm vi khác nhau, từ phạm vi hộ gia đình đến phạm vi cộng đồng.

-  Cần đánh gía mâu thuẫn, phân tích và hòa giải để giải quyết mâu thuẫn.

6. THỰC THI VÀ TUÂN THEO

-   Cần có cơ chế thực thi trong đó chỉ rõ ai có trách nhiệm gì, biện pháp thực thi, hình phạt áp dụng đối với việc không tuân theo.

-  Ngoài các quy  định trong luật pháp thì việc thực thi các quy định đối với người dân, nhất là các vùng được giao cho cộng đồng địa phương quản lý ngày càng có vai trò quan trọng (Quy ước hoặc hương ước).

7. TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CHO HỆ THỐNG THEO DÕI, KiỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT (MCS)

Các hoạt động:

Ø  Theo dõi: Phối hợp với cộng đồng ngư dân tham gia phát hiện các vi phạm xung quanh khu vực 6 hải lý từ biển vào bờ là khu vực được giao cho cộng đồng ngư dân thực hiện ĐQL và thông báo cho Thanh tra Sở (UBND xã) xử lý kịp thời; theo dõi số lượng tàu/thuyền đánh cá không có đăng ký/giấy phép khai thác).

Ø   Kiểm tra: Tất cả các hoạt động khai thác phải tuân thủ theo Luật TS; hỗ trợ tập huấn, tuyên truyền cho ngư dân.

Ø  Giám sát: Mục đích của hoạt động này là phát hiện những sai phạm tại chỗ, lôi kéo ngư dân tham gia. Trang bị tàu kiểm ngư (2 tàu/tỉnh khoảng 200.000USD/tàu) cũng như một xuồng cao tốc (canô) cho các trạm MCS.

v HẬU KHẢ THI: THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ

Mỗi năm cần thực hiện đánh gía¸ kế hoạch ĐQL và xây dựng  kế hoạch hoạt động và ngân sách cho năm tới về ĐQL. Đánh gía mặt làm được mặt tồn tại, rút ra bài học kinh nghiệm, đặt ra phương hướng hoạt động năm sau.

ĐỒNG QUẢN LÝ NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ LÀ MỘT PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT MỚI

Sản xuất vật chất là hoạt động khi con người sử dụng công cụ lao động tác động (trực tiếp hay gián tiếp) vào đối tượng lao động nhằm cải biến các dạng vật chất của tự nhiên, tạo ra của cải cần thiết mà các dạng vật chất trong tự nhiên không có để thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển. Sản xuất vật chất có tính khách quan, tính xã hội, tính lịch sử và tính sáng tạo. Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng được tạo nên từ ba yếu tố cơ bản là sức lao động của người lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Phương thức sản xuất  biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người; cách thức mà con người tiến hành sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.

Nghiên cứu cách tiếp cận và nội dung thực hiện của Dự án CRSD với phương pháp ĐQL (so với phương pháp quản lý tập trung hiện nay) đối với nghề cá nhỏ ven bờ có thể thấy rằng:

1. Về quan hệ sản xuất:

- Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất: Tư liệu sản xuất mà cụ thể là phương tiện khai thác vẫn của tư nhân. Từ chỗ “mạnh ai nấy làm”  chuyển sang hợp tác sản xuất chấm dứt tình trạng “khai thác tự do” trong hoạt động đánh bắt thủy sản với các nghề thân thiện với môi trường thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Thủy sản thông qua hương ước (hoặc quy chế).
- Quan hệ trong tổ chức và quản lý: Quan hệ giữa con người với con người trên cơ sở làng xã truyền thống theo công thức 2 + 1  là cơ sở để xây dựng các Làng cá văn hóa. Nội dung chính là hoàn thiện cơ chế tự quản hiện nay để chuyển từ phương pháp quản lý tập trung sang phương pháp ĐQL.

- Quan hệ phân phối lưu thông: Trong tổ chức của họ phải tập hợp các chủ tàu, thương lái (nậu, vựa), cơ sở đóng tàu, những người kinh doanh thủy sản…để xâu chuỗi các giá trị trong phân phối và lưu thông sản phẩm đánh bắt và nuôi trồng.

2. Về lực lượng sản xuất:

- Quan hệ với tự nhiên: Dự án đã đề cập đến tài nguyên thiên nhiên – hệ sinh thái. Hệ sinh thái bao gồm rạn san hô, rừng ngập măn, cỏ biển, nguồn lợi thủy sản có mối quan hệ hữu cơ là của tập thể cộng đồng, Nhà nước giao cho cộng đồng sử dụng và quản lý thông qua tổ chức của họ theo cơ chế tự quản. Nâng cao năng lực cho cộng đồng để có thể đảm đương được các công việc tự quản. Nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với nguồn lợi ven biển….

- Công cụ lao đồng: Phát triển các nghề khai thác thân thiện với môi trường. Nghiêm cấm sử dụng các nghề câm. Tiếp nhận các công nghệ khai thác và nuôi trồng có hiệu quả thân thiện với môi trường để tạo sinh kế mới và chuyển đổi nghề nghiệp cho cộng đồng.

- Mặc dù ngư dân có trí thức bản địa phong phú, nhưng phải nâng cao trình độ hiểu biết, phát huy kinh nghiệm, kỹ năng, năng lực, ứng dụng các tiến bộ KHKT mới trong khai thác và nuôi trồng thủy sản với phương châm vừa khai thác vừa khôi phục, bảo vệ hệ sinh thái của vùng nước được giao.

3. Vai trò của Nhà nước:

- Nhà nước giúp cộng đồng tạo ra các sinh kế đan xen tại vùng nước được giao để họ có thu nhập, chuyển sang các nghề thân thiện với môi trường, có điều kiện xâu chuỗi các giá trị trong sản xuất của nghề cá ven bờ.

- Dự án có nội dung: Tăng cường năng lực cho hệ thống theo dõi, kiểm soát và giám sát (MCS) nhằm giúp cho cộng đồng hoàn thành tốt cơ chế tự quản và các hoạt động của ĐQL.

- Hỗ trợ thể chế để xây dựng một phương thức sản xuất mới - ĐQL.

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng: ĐQL nghề cá quy mô nhỏ là phương thức sản xuất mới với cách tiếp cận sao cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất.

Gắn với hoàn thiên cơ chế tự quản

 

                                                                                                      thiết chế n lý và cơ chế  làng xã truyn thng và đương đại Vit Nam (n th tư), chúng tôi    

đồ 1: Mô hình hóa tổ chức làng xã Việt Nam: Tổ chức Làng xã truyền thống với cơ chế tự quản gồm hai thiết chế: Hội đồng kỳ mục (đại diện cho người dân - Phi quan phương) và Hội đồng lý dịch (đại diện cho Nhà nước - Quan phương) với công cụ quản lý là Hương ước gọi tắt là công thức 2 + 1. Tại các xã đương đại chỉ có 1 thiết chế là UBND xã. Tại các thôn đương đại cũng chỉ có một thiết chế, mặc dù có Hương ước và QCDC. Thực tế cho thấy cơ chế tự quản chỉ mới thực hiện ở cấp thôn nhưng chưa hoàn thiện vì thiếu 1 tổ chức phi quan phương.

Sơ đồ 2: Tổ chức xã nghề cá đương đại: Đề xuất xây dựng cơ chế tự quản theo công thức 2+1: Hai thiết chế UBND xã (chính quyền xã) và Chi hội nghề cá cơ sở - Tổ chức ngư dân (cấp xã) và công cụ quản lý là Quy chế (điều chỉnh giữa cộng đồng với cộng đồng). Để hoàn thiện thiết chế tự quản các xã ven biển thì cần bổ sung thêm 1 thiết chế là Chi hội Nghề cơ sở (cấp xã – Phi quan phương) đại diện cho ngư dân và công cụ quản lý là Quy chế.

Như đã nêu ở kỳ 2, có một số học gỉã cho rằng để cơ chế tự quản làng xã hiện nay để trở thành hiện thực kế thừa và phát huy gia trị văn hóa truyền thông thì cần thực hiện theo mô hình công thức 2 + 1 và phải có 1 thiết chế phi quan phương bên cạnh thiết chế quan phương; một số khác cho rằng cần nghiên cứu kỹ nếu không sẽ mất ổn định chính trị, mặc dù hiện tại Nhà nước đang phải trả lương cho khoảng 4 triệu người đang gánh vác các nhiệm vụ quản lý Nhà nước từ cấp thôn đến xã.

Đối với nghề cá Việt Nam số lượng ngư dân và những người làm nghề cá là 4,5 triệu người (2010) chiếm khoảng 10% tổng số lực lượng lao động của Việt Nam. Đối với Khánh Hòa số lượng ngư dân và những người làm nghề cá trên 60.000 người (2010) chiếm khoảng 5% tổng dân số của Khánh Hòa. Hơn nữa không có xã ven biển nào thuần ngư. Điều đó cho thấy việc hoàn thiện cơ chế tự quản theo công thức 2 + 1  (Quy chế) đối với các xã ven biển sẽ không ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị mà chỉ tốt thêm cho chương trình nông thôn mới.

Sơ đồ 3: Tổ chức làng cá (cấp thôn) đương đại có chính quyền cùng cấp: Tổ chức với cơ chế tự quản theo công thức 2+1: Hai thiết chế đại diện cho chính quyền Thôn và Phân hội nghề cá cơ sở (thôn) với công cụ quản lý là Hương ước vì Hương ước chỉ tồn tại ở cấp thôn, làng..(theo Chỉ thị 24/1998 của Chính phủ). Việc tổ chức Làng cá văn hóa (cấp ) thôn cần lồng ghép vào “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” .      

Sơ đồ 3a: Tổ chức vạn chài: Tổ chức Vạn chài theo mô hình truyền thống được xây dựng theo công thức 1 + 1: Một thiết chế là tổ chức Phi quan phương + công cụ quản lý là hương ước bất thành văn. Tổ chức vạn chài đương đại hoặc các tổ chức không có chính quyền cùng cấp (khu bảo vệ sinh thái, khu nuôi biển tập trung, khu nuôi trồng thủy sản nội địa...) đề xuất tổ chức với cơ chế tự quản theo công thức 1 + 1: Một thiết chế (tổ chức ngư dân – Phân hội nghề cá cơ sở) + công cụ quản lý là Quy chế hoạt động.  

Từ đây, có thể thấy rằng vai trò của Hội Nghề cá rất quan trọng không thể thiếu trong việc thực hiện ĐQL nghề cá quy mô nhỏ - một phương thức sản xuất mới ở Việt Nam.

B. CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI (PHI QUAN PHƯƠNG) NGÀY NAY

Trong lịch sử phát triển của Việt Nam (như đã đề cập ở trên) đã từng tồn tại các tổ chức của dân, đó là các tổ chức tự quản làng xã, dòng tộc, phường, hội, vạn, các quỹ từ thiện nhân đạo... đây là những tổ chức tự nguyện của dân với mục đích giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ tình cảm, bảo vệ lợi ích của người dân, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống...

1. THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC CỦA CÁC TỔ CHỨC NHÂN DÂN

Cho đến nay bên cạnh 6 đoàn thể chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chính phủ cho phép thành lập 400 hội có phạm vi toàn quốc, bao gồm các hội nghề nghiệp, hội nhân đạo từ thiện, các hội của các tổ chức kinh tế..., trong đó có Hội Nghề cá Việt Nam.

       Các tổ chức này có chung đặc điểm:

Ø  Được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc: tự nguyện, tự quản, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật;

Ø  Không nằm trong hệ thống bộ máy nhà nước;

Ø  Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

2.  VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC NHÂN DÂN, CÁC TỔ CHỨC NÀY ĐÃ VÀ ĐANG ĐÓNG VAI TRÒ NGÀY CÀNG QUAN TRỌNG TRONG XÃ HỘI

Một là, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân vào tổ chức của mình, thực hiện tốt quyền tự do hội họp, lập hội, góp phần thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra.

Hai là, tổ chức này là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nơi thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, là nơi truyền đạt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời là kênh phản ánh tiếng nói, là diễn đàn của người dân bày tỏ suy nghĩ, quan điểm trong khuôn khổ pháp luật với Đảng và Nhà nước để các cơ chế, chính sách sát với thực tế cũng như nâng cao phẩm chất của cán bộ, công chức của Nhà nước trong thực thi công việc và tổ chức bộ máy cho phù hợp.

Ba là, các tổ chức này là lực lượng đối ngoại nhân dân quan trọng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thông qua đó làm cho các nước hiểu Việt Nam hơn để tăng cường sự hiểu biết, hợp tác cũng như tranh thủ nguồn lực phát triển đất nước. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng trong nền kinh tế thế giới. Các tổ chức nhân dân ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên trong tranh chấp thương mại trong nước và quốc tế.

Bốn là, tổ chức các tổ chức nhân dân đã thực sự hỗ trợ cho nền kinh tế thị trường phát triển và khoả lấp các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường phát triển thông qua sự trợ giúp về thông tin, tuyên truyền kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật, đóng góp ý kiến nhằm thúc đẩy sự ra đời của cơ chế, chính sách cho phù hợp với thực tiễn cũng như thúc đẩy sự ra đời và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Mặt khác, các tổ chức nhân dân thời gian qua cũng đã cung ứng nhiều dịch vụ cho hội viên của mình, cho xã hội thông qua việc tổ chức các dịch vụ tới vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn mà các tổ chức vì lợi nhuận không muốn triển khai, nhà nước chưa đủ điều kiện để với tới, đồng thời đã cùng nhà nước thực hiện tốt công tác xã hội hoá: giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, thể dục thể thao.

Như vậy, các tổ chức nhân dân ở nước ta đã, đang hình thành ngày càng thích ứng với nền kinh tế thị trường của đất nước có xu hướng ngày càng phát triển và hoạt động ngày càng có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của đời sồng xã hội có vai trò ngày càng quan trọng, có đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Các tổ chức nhân dân Việt Nam có những đặc điểm giống với xã hội dân sự các nước, song có điểm khác quan trọng, đó là: các tổ chức nhân dân của Việt Nam đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trung thành với Đảng, Nhà nước.

3. HỆ THỐNG HỘI NGHỀ CÁ VIỆT NAM (VINAFIS)

THÔNG TIN CHUNG VỀ HỘI NGHỀ CÁ VIỆT NAM:

        ³ Tập hợp những cá nhân và tổ chức thuộc các thành phàn kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến và hậu cần dịch vụ nghề cá.

        ³ Hợp tác hỗ trợ, giúp đở nhau về kinh tế, kỹ thuật trong: Sản xuất kinh doanh; Dịch vụ nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa; Phòng tránh thiên tai, ngăn ngừa dịch bệnh; Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường; Đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên; Góp phần phát triển nghề cá cả

nước nói chung của từng địa phương, cơ sở nói riêng; Từng bước cải thiện  đời sống vật chất, tinh thần cho người làm nghề cá; Hội có tư cách pháp nhân hoạt động trên phạm vi cả nước, có con dấu riêng và tài khoản riêng, trụ sở đặt tại Thủ đô Hà Nội.

NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

             Ø Tuyên truyền giáo dục hội viên hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà

    nước về xây dựng và phát triển nghề cá…

       Ø Hợp tác, hỗ trợ giúp đở nhau

       Ø Tổ chức các cơ sở dịch vụ, hậu cần, tư vấn về nghề cá phục vụ cho hội viên, người làm nghề cá

       Ø Hội tổ chức khuyến ngư tự nguyện, tự tổ chức hoặc thạm gia vào các dự án đào tạo….

       Ø Hợp tác chặt chẽ với cơ quan, đoàn thể trong việc phát triển kinh tế. Kiến nghị góp ý với các tổ chức Đảng và Nhà nước về những chủ trương, luật pháp, chính sách phát triển nghề cá, bảo vệ quyền lợi hợp pháp   

của hội viên

       Ø Xây dựng và phát triển các mối quan hệ quốc tế của Hội với các hội nghề cá khu vực Đông Nam Á và các

           nước; với Hội nuôi thủy sản Thế giới, với các cá nhân, tổ chức quóc tế theo quy định của pháp luật

HỆ THỐNG TỔ CHỨC HỘI NGHỀ CÁ VIỆT NAM

                    

 

4. HỘI NGHỀ CÁ TỈNH KHÁNH HÒA – KHANHHOA FISHERIES ASSOCIATION (KHAFA) VÀ ĐIỀU LỆ

        v  Hội nghề cá tỉnh Khánh Hòa là tổ chức quần chúng có tính chất nghề nghiệp được thành lập trên cơ sở tự nguyện của những công dân và tổ chức pháp nhân của tỉnh Khánh Hòa làm nghề nuôi trồng, khai  thác, chế biến và hậu cần dịch vụ nghề cá.

        v Hội có tên tiếng Anh là:Khanhhoa Fisheries Association viết tắt là KHAFA .

        v Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa ra đời năm 2001 trên cơ sở hợp nhất Hội nuôi trồng Thủy sản tỉnh Khánh Hòa. Hộị được thành lập theo Nghị 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ (nay là Nghị định số: 45/2010/NĐ- CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ) Quy định về  tổ chức, hoạt động và quản lý Hội.

Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ III (2011- 2016) được UBND tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định số 2381/QĐ-UBND ngày 05/9/2011 V/v công nhận Ban Chấp hành và các chức danh lãnh đạo Hội Nghề cá tính Hòa và Quyết định số 2081/QĐ-UBND ngày 08/8/2011 V/v Phê duyệt Điều lệ Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa.

        v Hội có hội viên chính thức và hội viên danh dự

        v Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Khánh Hòa, thành viên của Liên hiệp các Hội KHKT tỉnh Khánh Hòa

        v Đại hội Nhiệm kỳ III (2011 - 2016) vào ngày 29-30/5/2011

        v Tổ chức Hội:

                     Ø Ban Chấp hành bao gồm: 25 người                                                                                                                                  

                     Ø Ban Thường vụ: 10 người

                     Ø Ban kiểm tra: 3 người

                     Ø Văn phòng Tỉnh hội đặt tại 85 đường 2/4, P. Vạn Thắng, TP. Nha Trang

                     Ø Thông tin liên lạc: Điện thoại : (0583).823.708, Fax: (0583).823.708,

                        Email: hoingheca_khanhoa@yyahoo.com, website: khafa.org.vn

                    Ø 5 đợn vi trực thuộc; 20 đơn vị hội viên tập thể; 1.100 hội viên cá nhân

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA KHAFA

                      

MỘT SỐ CHƯƠNG QUAN TRỌNG CỦA ĐIỀU LỆ HỘI NGHỀ CÁ TỈNH KHÁNH HÒA

(Được Phê duyệt theo Quyết định số: 2081/QĐ-UBND ngày 05/8/2011 và Quyết định số: 252/QĐ-CTUBND ngày 30/01/2012 của UBND tỉnh Khánh Hòa V/v phê duyệt sửa đổi Điều lệ Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa)

       CHƯƠNG II

       NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA HỘI

Điều 5. Nhiệm vụ của Hội

1. Tổ chức, hoạt động theo Điều lệ Hội được phê duyệt.

2. Tuyên truyền mục đích của Hội.

3. Đại diện cho hội viên trong mối quan hệ đối nội, đối ngoại có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Hội.

4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Hội, của hội viên phù hợp với tôn chỉ, mục đích của Hội.

5. Tổ chức, phối hợp hoạt động giữa các hội viên vì lợi ích chung của hội; hoà giải tranh chấp nội bộ Hội.     

6. Phổ biến, huấn luyện kiến thức cho hội viên; cung cấp thông tin cần thiết cho hội viên theo quy định của pháp luật.

7. Tham gia chương trình dự án, đề tài nghiên cứu, tư vấn phản biện và giám định xã hội theo đề nghị của cơ quan nhà nước; tổ chức dạy nghề, truyền nghề theo quy định của pháp luật.

8. Tham gia ý kiến vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung hoạt động của Hội theo quy định của pháp luật. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các vấn đề liên quan tới sự phát triển Hội và lĩnh vực hội hoạt động. Được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức các hoạt động dịch vụ khác theo quy định của pháp luật và được cung cấp chứng chỉ hành nghề khi có điều kiện theo quy định của pháp luật.

9. Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ của Hội.

  1. Được gây quỹ Hội trên cơ sở hội phí của hội viên và các nguồn thu từ hoạt động kinh doanh, 

dịch vụ theo quy định của pháp luật để tự trang trải về kinh phí hoạt động.

11. Được nhận các nguồn tài trợ hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí đối với những hoạt động gắn với nhiệm vụ của nhà nước giao.

12. Xây dựng và ban hành quy tắc đạo đức trong hoạt động của Hội.             

Điều 6. Quyền hạn của Hội

 1. Kiến nghị góp ý với các cấp Đảng và Nhà nước về những chủ trương, chính sách, biện pháp khuyến khích, giúp đỡ phát triển nghề cá, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho hội viên và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.

 2. Phối hợp với các tổ chức có liên quan trong, ngoài tỉnh nhằm thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của Hội, tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

 3. Xây dựng và phát triển các mối quan hệ hợp tác với Hội Nghề cá tỉnh bạn, tổ chức trong và ngoài ngành, trong và ngoài nước có liên quan trên cơ sở chính sách và pháp luật của Nhà nước

CHƯƠNG III

NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI

Điều 7. Hội hoạt động theo các nguyên tắc sau:

1. Tự nguyện, tự quản;

2. Dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch;

3. Tự bảo đảm kinh phí hoạt động;

4.  Không vì mục đích lợi nhuận;

5.  Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ hội.

CHƯƠNG VI

QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA HỘI VIÊN

 

Điều 12. Quyền của hội viên

1. Được tham gia hội nghị phổ biến kinh nghiệm; bồi dưỡng nâng cao kiến thức và tay nghề, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ bằng các hình thức: cung cấp tài liệu, thông tin, sinh hoạt câu lạc bộ, hội thảo, dự các lớp huấn luyện, trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, các cuộc tham quan trong và ngoài nước do Hội tổ chức.

2. Được Hội bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; được Hội giúp đỡ, đỡ đầu trong các công trình nghiên cứu, thử nghiệm, sáng kiến cải tiến phát minh trong nghề cá theo đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước.

3. Được Hội giới thiệu với các cơ sở của Hội, các địa phương và các cơ sở sản xuất - kinh doanh để hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc làm chuyên gia tư vấn kỹ thuật.

4. Được thảo luận, biểu quyết, chất vấn, phê bình mọi công việc của Hội, bầu cử, ứng cử vào Ban Chấp hành của Hội.

5. Được khen thưởng khi có thành tích xuất sắc trong sản xuất kinh doanh và trong công tác Hội.

Được quyền ra khỏi Hội theo Điều 9 của Điều lệ này.

Điều 13. Nghĩa vụ của hội viên

1. Nghiêm chỉnh thực hiện mọi chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước đối với nghề cá, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo vệ môi trường.

2. Tích cực lao động sản xuất - kinh doanh và công tác, nâng cao trình độ hiểu biết và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nghề cá đạt hiệu quả kinh tế cao.

3. Tham gia đều đặn các hoạt động và sinh hoạt của Hội, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ của hội viên, xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh.

4. Nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Hội Nghề cá Việt Nam, Điều lệ Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hoà, các Nghị quyết của Hội, tuyên truyền phát triển hội viên mới, xây dựng củng cố phát triển Hội, vận động quần chúng hưởng ứng hoạt động của Hội.

5. Đóng hội phí đầy đủ.

      CHƯƠNG VII

      TỔ CHỨC CỦA HỘI

Điều 14. Ở Tỉnh có Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa (gọi tắt là Tỉnh hội). Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ra quyết định cho phép thành lập.

Điều 15. Đại hội đại biểu Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa

1. Đại hội đại biểu Tỉnh hội tổ chức 5 năm 1 lần.

2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội đại biểu Tỉnh hội.

5. VAI TRÒ CỦA HỘI TRONG DỰ ÁN NGUỒN LỢI VEN BiỂN VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (CRSD)

Với vai trò là Tổ chức của ngư dân, để thực hiện dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD) của tỉnh Khánh Hòa, Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo các cấp hội từ tỉnh đến huyện, thị, thành phố triển khai các công tác sau:

      v Vận động bà con ngư dân vào Hội.

      v Thành lập Chi hội Nghề cá cơ sở (xã) và Phân hội Nghề cá cấp thôn:

            Ø Phối hợp với cấp ủy xã chọn nhân sự ở các vai lãnh đạo của Hội: Các chức danh chủ chốt của Chi hội Nghề cá cấp xã có thể kiêm nhiệm (nếu chưa có chuyên trách). Cán bộ hội cấp thôn phải là chuyên trách

            Ø Hướng dẫn việc đại hội thành lập Chi hội Nghề cá cấp xã theo quy định.

            Ø Phối hợp với cấp ủy xã chon nhân sự và hướng dẫn đại hội thành lập cấp thôn.

      v Nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp hội, đặc biệt cấp hội ở xã và thôn.  

      v Phối hợp với Ban quản lý Dự án CRSD xây dựng kế hoạch đồng quản lý ở cấp xã và thôn.

      v Phối hợp với Ban quản lý Dự án CRSD bổ sung Hương ước ở cấp thôn về việc quản lý khai thác thủy sản và hệ sinh thái hoặc xây dựng cơ chế tự quản ở cấp thôn.

C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:

1. Tổ chức ĐQL nghề cá quy mô nhỏ ở Việt Nam tại cấp xã, thôn ven biển nên tiến hành xây dựng như sau:

            - Đối với cấp xã: công thức 2 + 1 - hai thiết chế: Chính quyền cấp xã và Hội nghề cá cấp xã + 1 công cụ quản lý là Quy chế (điều chỉnh giữa công chúng với công chúng).

            - Đối với cấp thôn: công thức 2 + 1 - hai thiết chế: Chính quyền cấp thôn và Hội Nghề cá cấp thôn + 1 công cụ quản lý là Hương ước (điều chỉnh giữa công chúng với công chúng).

            - Đối với các đơn vị kinh tế không có chính quyền cùng cấp: xây dựng theo công thức 1 + 1: Một thiết - Chi hội nghề cá chuyên ngành + 1 Quy chế (điều chỉnh giữa công chúng với công chúng).              

2. Hội Nghề cá cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc thực hiện ĐQL vì đây là tổ chức của ngư dân, của những người làm nghề cá được Nhà nước công nhận theo pháp luật. Hiện nay các tỉnh có biển đều có Hội Nghề cá, một số tỉnh có tổ chức Hội từ tỉnh xuống huyện, xã. Một số tỉnh chỉ có Tỉnh hội và Hội tại xã. Riêng tại Khánh Hòa theo Điều lệ có tổ chức từ tỉnh đến xã, chúng tôi đề xuất ĐQL nghề cá theo sơ đồ 5.

3. ĐQL nghề cá nhỏ ven bờ là một phương thức sản xuất mới đáp ứng quy luật của quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, về lâu dài mô hình này cần triển khai cho tất cả các xã ven biển của Việt Nam.

 

Kỳ 5: Hỗ trợ thể chế

Tài liệu tham khảo:

1) Quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ TCSCĐ tại các thôn biển của xã Ninh Ích h. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Th.S Võ Thiên Lăng, năm 2001

2) Đồng quản lý nghề cá Sổ tay Thực hành R.S. Romeroy and R. Rivera-Guieb

3) Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD), Bộ NN&PTNT, tháng 03/2012

6) Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án. Bộ NN&PTNT, Dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD), tháng 03/2012

7) Hoạt động của các tổ chức nhân dân ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Lâm, Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Phi Chính phủ

8) Vai trò của sản xuất vật chất và quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất http://text.123doc.vn

9) Hội Nghề cá Việt Nam, Hội Nghề cá Khánh Hòa (Tài liệu đại hội đại biểu nhiệm kỳ III)

10). 50 năm thủy sản Việt Nam. TS. Ngô Anh Tuấn

 

HỖ TRỢ THỂ CHẾ (Kỳ cuối)

Hỗ trợ thể chế là một hợp phần rất quan trọng trong Đồng quản lý (ĐQL) nghề cá quy mô nhỏ. Bởi lẽ nó là khung pháp lý để thực hiện tổ chức bộ máy ĐQL ở cấp xã và giao quyền khai thác thủy sản (KTTS) và bảo vệ tài nguyên (BVTN) ven bờ cho tổ chức của cộng đồng mà Chi hội nghề cá cấp cơ sở  (cấp xã) là đại diện.

NHỮNG CÔNG VIỆC CẦN LÀM

1. RÀ SOÁT, BỔ SUNG QUY HOẠCH, CƠ CẤU, TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT NGÀNH THỦY SẢN THEO HƯỚNG PHÁT HUY LỢI THẾ, TIỀM NĂNG CỦA ĐỊA PHƯƠNG

Ngày 16/8/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 1445/QĐ-TTg V/v Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Một số nội dung chính có liên quan đến nghề cá quy mô nhỏ như sau:

QUAN ĐIỂM QUY HOẠCH

1. Quy hoạch phát triển thủy sản phải phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước, phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, tiếp tục đưa thủy sản trở thành một ngành sản xuất hàng hóa lớn với khả năng cạnh tranh cao.

2. Quy hoạch phát triển thủy sản trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả lợi thế, tiềm năng, tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành thủy sản cùng với quá trình hiện đại hóa nghề cá. Hình thành các trung tâm nghề cá lớn, gắn kết với các ngư trường trọng điểm, vùng sản xuất nguyên liệu tập trung, với khu công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.

3. Quy hoạch phát triển thủy sản trong mối quan hệ kết hợp hài hòa lợi ích với các ngành kinh tế khác và phát triển kinh tế - xã hội các vùng, địa phương; đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng trên các vùng biển, đảo.

4. Quy hoạch phát triển thủy sản gắn với đổi mới và phát triển quan hệ sản xuất, chú trọng các hình thức liên kết, hợp tác giữa sản xuất nguyên liệu với chế biến và tiêu thụ; nâng cao vai trò tham gia quản lý của cộng đồng, vai trò của các Hội, Hiệp hội ngành nghề trong sản xuất thủy sản; đồng thời tăng cường vai trò quản lý nhà nước và không ngừng cải cách hành chính.

5. Quy hoạch phát triển thủy sản hướng đến cải thiện điều kiện sống, nâng cao thu nhập của cộng đồng ngư dân, tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất thủy sản hàng hóa với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao, gắn với xây dựng, phát triển nông thôn mới, xây dựng các làng cá giàu đẹp, văn minh.

MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

 Mục tiêu chung:

Ngành thủy sản cơ bản được công nghiệp hóa vào năm 2020, hiện đại hóa vào năm 2030 và tiếp tục phát triển toàn diện, hiệu quả bền vững, trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, có cơ cấu và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, hội nhập vững chắc vào nền kinh tế quốc tế, từng bước nâng cao thu nhập và mức sống của nông, ngư dân; đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn lợi thủy sản và góp phần bảo vệ quốc phòng, an ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN THỦY SẢN

Khai thác thủy sản:

Tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản phù hợp với từng nhóm nghề, từng ngư trường và từng vùng biển, gắn khai thác với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, đổi mới các hình thức hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

 Đối với KTTS:

- Triển khai kế hoạch điều tra nguồn lợi thường niên trên các vùng biển. Xây dựng bản đồ số hóa về nguồn lợi hải sản làm cơ sở cho việc cấp phép và kiểm soát cường lực khai thác.

- Hoàn thành việc quy hoạch các vùng cấm khai thác, vùng cấm khai thác có thời hạn; công bố danh mục các loại nghề cấm, đối tượng cấm khai thác. Thực hiện nghiêm ngặt các quy định về khai thác theo mùa vụ; nghiêm cấm khai thác trong mùa sinh sản; nghiêm cấm sử dụng các dụng cụ khai thác hủy hoại môi trường và nguồn lợi thủy sản.

- Tiếp tục thực hiện các đề án, dự án bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản phục vụ phát triển nghề cá bền vững; bảo vệ, bảo tồn các loài thủy sản quý hiếm có giá trị khoa học và kinh tế, bảo tồn đa dạng sinh học. Áp dụng các biện pháp quản lý về nơi cư trú, quản lý về quần đàn của các loài thủy sản.

- Xây dựng mô hình chuyển đổi nghề khai thác ven bờ kém hiệu quả, gây hại nguồn lợi thủy sản, không thân thiện với môi trường, sang các ngành nghề thích hợp khác có hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Tổ chức và quản lý sản xuất:

Thực hiện tái cơ cấu trong lĩnh vực thủy sản, đặc biệt là tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản. Đa dạng hóa mô hình tổ chức sản xuất, khuyến khích các mô hình liên kết, liên doanh giữa người sản xuất nguyên liệu, với các nhà chế biến, thương nhân, các nhà đầu tư, tín dụng... theo chuỗi giá trị của sản phẩm, với sự tham gia quản lý, tổ chức của cộng đồng, của các Hội, Hiệp hội.

Đối với tỉnh Khánh Hòa, Sở Nông nghiệp và PTNT cần rà soát, bổ sung Quy hoạch phát triển ngành thủy sản tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015 có tính đến năm 2020 theo Quyết định số 2293/QĐ-UBND ngày 06/9/2010 của UBND tỉnh, và xây dựng mới Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030 trình cho UBND tỉnh Phê duyệt.

2. XÂY DỰNG QUY HOẠCH TỔNG THỂ QUẢN LÝ KTTS VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN (BVTN) VEN BỜ CẤP TỈNH ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030 

Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được UBND tỉnh phê duyệt, Sở nông nghiệp và PTNT tiến hành xây dựng Quy hoạch tổng thể quản lý KTTS cấp tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Đây là Quy hoạch chi tiết liên quan đến việc giao quyền sử dụng và quản lý vùng nước sẽ giao cho tổ chức cộng đồng (FO - Chi hội nghề cá cơ sở).

Theo Nghị định số 123/2006/NĐ-CP ngày 27/10/2006 thì tuyến bờ là vùng biển được tính từ bờ biển đến đường nối liền các điểm cách bờ biển 6 hải lý. Đây là vùng nhạy cảm có nhiều hoạt động KTTS, NTTS, du lịch, giao thông thủy nội địa…, và là vùng biển sẽ giao cho tổ chức cộng đồng sử dụng và quản lý. Tại Điều 12 khoản 4 của Nghị định này đã phân cấp quản lý tuyến bờ cho UBND cấp huyện, cấp xã; phát triển các mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng đối với việc quản lý nguồn lợi thủy sản ven bờ.

Theo ông Nguyễn Chu Hồi - Phó Tổng cục trưởng - Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam bày tỏ những băn khoăn, lo lắng xung quanh vấn đề giao quyền sử dụng mặt nước cho người nuôi trồng và KTTS xuất phát từ Nghị định 123 của Chính phủ, phạm vi giải quyết mới chỉ dừng ở ngành thuỷ sản. Ngay khi ban hành Nghị định này, nhiều ngành đã cho rằng rất khó khả thi vì một vùng biển không phải là đối tượng sử dụng của riêng ngành thuỷ sản, và cũng không phải chỉ có ngư dân là người hưởng lợi mà bản chất của hệ thống tài nguyên biển - ven biển này là đối tượng sử dụng của nhiều ngành (đa ngành), các ngành và người hưởng dụng khác nhau sẽ cùng khai thác du lịch, bảo tồn, thuỷ sản, giao thông đường biển,…Mặt biển, hải đảo hay nói rộng ra là không gian biển, đó là những hệ thống tài nguyên chia sẻ, nhiều ngành khai thác mà chỉ giao cho một ngành, một đối tượng sử dụng là khó khả thi.

Để giải quyết vấn đề này, trong dự án CRSD có hợp phần A: Tăng cường thể chế cho quản lý nghề cá bền vững.  Ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến Tiểu hợp phần A1: Quy hoạch không gian tổng hợp (QHKGTH) khu vực ven biển. Theo Dự án, quy hoạch vùng nước ven bờ là một trong những vấn đề chính ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển của ngành thủy sản. Tuy nhiên, hiện các địa phương chủ yếu vẫn đang quy hoạch vùng nước ven bờ theo tiếp cận truyền thống của ngành. Điều này thường dẫn đến sự thiếu đồng bộ, thống nhất và thậm chí dẫn đến sự mâu thuẫn giữa các ngành do thiếu sự điều phối và chia sẻ thông tin. Năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định 25/2009/NĐ – CP về quản lý tổng hợp vùng bờ cho việc sử dụng và bảo vệ bền vững nguồn lợi ven biển. Năm 2010, Chính phủ lại ban hành Nghị định số 33 (thay cho Nghị định 123) thông qua việc phân cấp quản lý cho các cấp địa phương (tỉnh, huyện và xã) thực hiện các mô hình ĐQL các nguồn lợi ven biển. Hiện đã hình thành được khung cơ sở pháp lý, chính sách nhưng khiếm khuyết chính hiện nay là nằm ở việc triển khai thực hiện những chính sách đó.

QHKGTH cho vùng nước ven bờ đòi hỏi có sự tham gia của nhiều ngành (như NTTS, KTTS, du lịch, nông thôn và phát triển nông thôn và đô thị, cơ sở hạ tầng, năng lượng…). Do đó điều quan trọng là các tỉnh ven biển cần áp dụng cách tiếp cận QHKGTH vào xây dựng các kế hoạch phát triển ngành thủy sản để đảm bảo tính thống nhất trong quy hoạch đa ngành ở vùng nước ven bờ.

QHKGTH (ISP) là cách tiếp cận thực tế để quản lý hai mâu thuẫn và tương thích đối với môi trường biển trước áp lực phát triển ngày càng gia tăng và sự quan tâm ngày càng lớn đối với  đối với việc sử dụng bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Đó là một công cụ thực tế nhằm tạo, dựng lên  cách tổ chức hợp lý hơn đối với việc sử dụng không gian biển và sự tương tác giữa các mục đích sử dụng không gian biển, nhằm tạo sự cân bằng giữa nhu cầu phát triển với nhu cầu bảo vệ các hệ sinh thái biển, và để đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội một cách cởi mở và có kế hoạch. QHKGTH là một quy trình công khai về phân tích và thực hiện việc phân bố không gian và thời gian các hoạt động của con người tại các khu vực biển để đạt được các mục tiêu về sinh thái, kinh tế, xã hội. Việc xây dựng QHKGTH là một quá trình liên tục, lập lại và cần được đúc rút kinh nghiệm và thích ứng theo thời gian. Song song với nó, các quy hoạch chiến lược ngành thủy sản sẽ vẫn tiếp tục được hình thành ngay cả khi QHKGTH đã được đưa vào thực hiện trong thực tế. QHKGTH có hiệu quả có những đặc điểm như sau:

-       Dựa vào hệ sinh thái: tạo ra sự cân bằng giữa các mục đích và mục tiêu về sinh thái, kinh tế, xã hội nhằm hướng tới phát triển bền vững.

-       Tổng hợp: xuyên suốt giữa các ngành, cơ quan và các cấp quản lý.

-       Căn cứ theo địa điểm: căn cứ vào khu vực.

-       Mang tính thích ứng: có khả năng học hỏi từ kinh nghiệm.

-       Mang tính chiến lược và định hướng: tập trung vào dài hạn.

-       Có sự tham gia: các bên liên quan tham gia tích cực vào quá trình.

3. XÂY DỰNG QUY CHẾ QUẢN LÝ KTTS  VÀ BVTN VEN BỜ CẤP TỈNH ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030 

Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể quản lý KTTS và BVTN ven bờ cấp tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được UBND tỉnh phê duyệt, Sở Nông nghiệp và PTNT tiếp tục xây dựng và trình UBND tỉnh phê duyệt Quy chế quản lý KTTS và BVTN ven bờ đến năm 2020, tầm nhìn 2030. 

Đây là văn bản pháp quy rất quan trọng để thực hiện ĐQL nghề cá quy mô nhỏ.

Trong Quy chế quản lý KTTS và BVTN ven bờ cần có một chương riêng về: Tổ chức ngư dân KTTS và BVTN ven bờ. Nội dung chương này nhằm khẳng định vai trò của Hội Nghề cá cấp cơ sở (cấp xã):

            -  Các cá nhân, hộ gia đình tham gia KTTS và BVTN ven bờ phải tập hợp trong các tổ chức ngư dân cấp cơ sở. Nhà nước sẽ chỉ phân quyền quản lý KTTS và BVTN ven bờ cho Tổ chức ngư dân cấp cơ sở.

            - Tổ chức ngư dân cấp cơ sở là tổ chức xã – nghề nghiệp. Chi hội nghề cá trực thuộc Hội Nghề cá cấp tỉnh thuộc hệ thống Hội Nghề cá Việt Nam. Tổ chức ngư dân hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính quyền địa phương cấp xã, được sự bảo trợ của Sở Nông nghiệp và PTNT, Phòng Kinh tế cấp huyện và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Hội Nghề cá cấp trên.

            - Chi hội Nghề cá hợp pháp cấp cơ sở có thể được Nhà nước ủy quyền quản lý nguồn lợi thủy sản và bảo vệ tài nguyên trên một thủy vực nhất định. Trên cơ sở đó, Chi hội nghề cá tự chủ điều phối các hoạt động KTTS và BVTN ven bờ của các thành viên một cách sáng tạo, phù hợp, bảo đảm lợi ích hài hòa cho từng thành viên trong lợi ích chung của Tổ chức và toàn xã hội.

            - Chi hội Nghề cá có thể sắp xếp lại ngư trường một cách chủ động, sáng tạo trên cơ sở bảo lưu khu vực đánh cá truyền thống của cá nhân, hộ gia đình thành viên, phù hợp với quy hoạch chung của Nhà nước và hiệu quả của cộng đồng.

            - Chi hội Nghề cá có nghĩa vụ làm đầu mối quản lý cho các cơ quan Nhà nước các cấp, như quản lý về thuế KTTS vùng nước ven bờ, quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, quản lý về môi trường sinh thái vùng nước, quản lý về bảo đảm giao thông trên ngư trường.

            - Chi hội Nghề cá cấp cơ sở có trách nhiệm hòa giải các trường hợp tranh chấp về ngư trường, nguồn lợi giữa các cá nhân, hộ gia đình trong Tổ chức mình. Chỉ khi nào không thể hòa giải được mới đưa đến chính quyền giải quyết.

           - Trên cơ sở Tổ chức của mình, ngư dân có thể sáng tạo ra các hình thức hợp tác kinh tế nghề cá tự nguyện trong cộng đồng như: tín dụng, tiết kiệm, chế biến, tiêu thụ thủy sản, cung ứng vật tư…

           - Các nhà nghiên cứu, quản lý, thương mại, đầu tư sản xuất thủy sản…có thể tham gia vào Chi hội Nghề cá cơ sở với tư cách là thành viên không chính thức, để giúp đở, hỗ trợ, hợp tác cùng phát triển. Chi hội Nghề cá cấp cơ sở có quyền kết nạp hoặc từ chối các thành viên này.

           - Nhà nước khuyến khích Chi hội Nghề cá cấp cơ sở xây dựng “quy chế tự quản” trên cơ sở pháp luật Nhà nước, để cụ thể, chi tiết hóa các quy định của cộng đồng, nhằm bảo vệ ngư trường, nguồn lợi thủy sản, tài nguyên ven bờ và một số vấn đề có liên quan: môi trường vùng nước, giao thông thủy nội địa, quản lý thuế KTTS….

           - Chi hội Nghề cá cấp cơ sở có quyền khai trừ các thành viên vi phạm nghiêm trọng những quy định của tổ chức nhiều lần, vi phạm nghiêm trọng pháp luật Nhà nước, có hành vi gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, nguồn lợi thủy sản…

Ngoài ra cần có một số Chương như:

- Quy định chung: Quy định đối tượng và phạm vi điều chỉnh; nguyên tắc quản lý; giải thích từ ngữ.

- Quản lý năng lực KTTS và BVTN ven bờ:

- Bảo vệ ngư trường và tài nguyên ven bờ: Nghiêm cấm các hành vi làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản, tài nguyên ven bờ, gây ô nhiễm môi trường sinh thái ven bờ sau: chất nổ, xung điện, mắt lưới…

- Phát triển nguồn lợi thủy sản: Xã hội hóa bổ sung tái tạo nguồn lợi thủy sản; khuyến khích thả chà rạo để tạo nơi cư trú ẩn và sinh sản của thủy sản.

- Quan hệ hợp tác trong nước, quốc tế: Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước, quốc tế nghiên cứu, điều tra, thăm dò nguồn lợi thủy sản; nghiên cứu quản lý, bảo vệ và phát triển ngư trường, nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái vùng ven bờ. Đặc biệt, các nghiên cứu ứng dụng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu cụ thể của các Tổ chức ngư dân cấp cơ sở; Nhà nước khuyến khích việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trao đổi chuyên gia, thông tin, kinh nghiệm về quản lý nghề cá ven bờ

- Tổ chức thực hiện

 4.  QUY CHẾ QUẢN LÝ KTTS  VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN (BVTN) VEN BỜ CẤP HUYỆN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030 

Trên cơ sở Quy chế quản lý KTTS và BVTN ven bờ được UBDN tỉnh phê duyệt, Phòng kinh tế cấp huyện phối hợp với Ban ĐQL cấp tỉnh xây dựng Quy chế quản lý KTTS và BVTN ven bờ của cấp huyện với phương châm cụ thể việc quản lý hoạt động KTTS và tài nguyên ven bờ của huyện mình. Kết hợp với kết quả QHKGTH giao vùng nước cho Tổ chức ngư dân cấp cơ sở (cấp xã) với các tọa độ cụ thể (kinh, vĩ độ) của vùng nước từ 6 hải lý vào bờ.

Đối với cấp thôn, mô hình tổ chức ĐQL theo công thức 2 +1 – hai thiết chế và một công cụ quản lý. Hai thiết chế bao gồm: thiết chế chính quyền thôn và thiết chế tổ chức của ngư dân -  Phân hội nghề cá cơ sở (thôn). Một công cụ quản lý là Hương ước. Những thôn nào chưa xây dựng thì xây dựng Hương ước theo quy định, bổ sung thêm những quy định có trong Quy chế KTTS và BVTN ven bờ đã được UBND cấp huyện phê duyệt. Những thôn nào đã có Hương ước thì bổ sung những quy định có trong Quy chế KTTS và BVTN ven bờ đã được UBND cấp huyện phê duyệt. Hòa chung vào “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, các thôn ven biển cần đăng ký xây dựng “Làng cá văn hóa”, đặc biệt đối với các thôn nằm trong các xã chọn làm thí điểm theo Dự án CRSD của Ngân hàng Thế giới. Việc lồng ghép QCDC ở cơ sở vào Hương ước là điều rất cần. Với cách tiếp cận từ nền văn hóa làng xã truyền thống và đương đại thì cơ chế tự quản chỉ có thể thực hiện ở cấp thôn.

ĐỀ XUẤT VÀ KẾT LUẬN

1. ĐQL nghề cá quy mô nhỏ bao gồm 4 hợp phần: (1). QUẢN LÝ NGUỒN LỢI (Bảo vệ, phục hồi,  điều chỉnh, chính sách; (2) PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG (Tạo sinh kế, dịch vụ cộng đồng);

(3) TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG (Việc tổ chức (tự quản), sự lãnh đạo (bầu), sự tham gia (tự nguyện), sự phân quyền cho ngư dân (Chính quyền); (4). HỖ TRỢ THỂ CHẾ (Cơ chế quản lý, mạng lưới cộng đồng, thiết kế các văn bản). Các hợp phần trên có mối quan hệ hữu cơ, tuy nhiên việc tổ chức cộng đồng và hỗ trở thể chế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Không có bộ máy tổ chức ĐQL phù hợp với cơ chế tự quản thì không thể tiến hành hoặc phát triển không bền vững. Việc Hỗ trợ thể chế như đã trình bày ở trên có thể coi là yếu tố quyết định cho sự thành công của ĐQL. Một chuỗi các văn bản có quan hệ mật thiết đòi hỏi phải tiến hành trong thời gian ngắn nhất có thể.   

2. Về vấn đề tài chính thực hiện ĐQL:

Ở Việt Nam các mô hình ĐQL chủ yếu dựa vào tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGOs) là chính. Thực tế trong những năm qua Hợp phần SCAFI triển khai ĐQL dựa trên nguồn tài trợ của FSPSII (Chính phủ Đan Mạch), cũng không ít mô hình ĐQL được triển khai sau khi dự án kết thúc, không còn nguồn tài chính tài trợ đã không thể tiếp tục tồn tại. Thực tế đó cho thấy, nếu không tự chủ được tài chính sau khi dự án kết thúc thì mô hình ĐQL không thể tồn tại.

Khác với các dự án ĐQL đã triển khai ở Việt Nam, Dự án CRSD: Nguồn lợi ven biển vì sự phát triiển bền vững được triển khai bằng vốn vay từ Ngân hàng Thế giới thông qua Hiệp hội Phát triển Quốc tế. Đến hạn Nhà nước Việt Nam phải trả lãi và gốc. Vì vậy, việc triển khai thành công ĐQL ở các xã thí điểm là mục tiêu trên hết.

Như đã trình bày ở các kỳ trước có hai nguyên nhân cơ bản để các làng xã truyền thống tồn tại một cách bền vững là: Ruộng công và nhà thờ họ. Theo Đào Duy Anh: “Khi nào nhân dân xin phép dựng làng, nhà vua thường cấp cho một khoảnh thổ địa để làm của chung. Những công điền, công thổ ấy không được bán đi, trừ ra gặp buổi cơ cận tai hoạn dữ lắm thì xã thôn có thể xin phép (nhà vua - nhà nước) tạm cầm trong hạn 3 năm. Những ruộng đất công ấy là của nhà vua cho xã thôn được hưởng lợi, nên xã thôn phải nộp địa tô thường cao hơn thuế ruộng đất riêng”. Sự tự chủ tài chính ở làng xã truyền thống Việt Nam là nhờ vào đất công – chế độ công điền. Ở Bắc Bộ cho đến những năm 50 của thế kỷ XX thì làng nào cũng còn lại một số ruộng đất công, nhiều ít tùy địa phương, tùy trường hợp cụ thể, nhưng không làng nào không có.

Theo chúng tôi ngoài việc Nhà nước giao quyền KTTS và BVTN ven bờ thì phải có cơ chế tài chính hỗ trợ cho Tổ chức cộng đồng - Chi hội nghề cá cơ sở). Muốn vậy, trong Quy chế quản lý KTTS và BVTN ven bờ cấp tỉnh phải đề cập đến:

-  Tất cả các hộ KTTS tự nhiên và NTTS (trường hợp có nuôi biển) trên vùng nước ven bờ đều phải đóng thuế và để lại 100% cho ngân sách xã. UBND xã quy định tỷ lệ % để lại cho Tổ chức ngư dân cấp cơ sở để chi phí cho việc tổ chức thu thuế trong cộng đồng và công tác quản lý, tổ chức các hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

-  Mức sản lượng KTTS tự nhiên và NTTS (trường hợp có nuôi biển) tính thuế cho từng khu vực do Cục thuế Tỉnh thống nhất với Sở Nông nghiệp và PTNT trình UBND Tỉnh quyết định, sau khi đã trao đổi cụ thể với Chính quyền cấp xã và Tổ chức ngư dân cấp cơ sở.

3. Sinh kế nằm trong hợp phần Phát triển cộng đồng cũng là yếu tố không thể thiếu sau khi xây dựng tổ chức cộng đồng và hỗ trợ thể chế bởi lẽ, ngư dân nghề cá nhỏ ven bờ chủ yếu là người nghèo việc chuyển đổi sang các nghề thân thiện với môi trường đòi hỏi phải có sinh kế đan xen.

4. Trên cơ sở các nghiên cứu từ kỳ 2 đến kỳ 4 có thể thấy rằng: ĐQL nghề cá quy mô nhỏ ở Thừa Thiên – Huế thông qua Dự án “Tăng cường cơ hội tiếp cận đất và mặt nước cho cộng đồng vạn đò định cư ven đầm phá Tam Giang, Phú Vang, Thừa Thiên Huế” do tổ chức ICCO (Hà Lan) phối hợp với Kerk in Actice tài trợ và Dự án: Đồng quản lý tài nguyên ven biển miền Trung do IDRC (Canada) tài trợ là thành công nhất theo mô hình ĐQL công thức 1 + 1 với nội dung sắp xếp các hoạt động KTTS và NTTS trên đầm phá Tam Giang và định cư vạn chài.

5. ĐQL nghề cá quy mô nhỏ là một phương thức sản xuất mới đòi hỏi phải có sự đổi mới tư duy đối với các cấp ủy, chính quyền địa phương, cán bộ quản lý ngành thủy sản các cấp và ngư dân. Vì vậy, công tác tuyên truyền ĐQL được coi là bước đột phá đầu tiên kết hợp với nâng cao năng lực đối với các Chi hội nghề cá cơ sở.

Với những nghiên cứu của chúng tôi đã trình bày ở các kỳ, mong rằng nó sẽ góp một phần không nhỏ cho sự thành công của dự án CRSD: Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững cho các tỉnh được chọn thực hiện dự án nói chung, Khánh Hòa nói riêng.

Tài liệu tham khảo:

1)    Cần có cách tiếp cận hợp lý đối với mô hình đồng quản lý nghề cá nhỏ ven bờ tại Việt Nam. Th.S. Võ Thiên Lăng, Phó Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam. Tham luận tại Hội nghị Đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ tại Việt Nam, Đà Nẵng từ 26 -27 tháng 10/2009.

     

2)     Hiệp định tài trợ (Dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững) giữa Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Hiệp hội Phát triển Quốc tế. Ngày 9/8/2012.

 

3)    Sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án: Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững. Hà Nội tháng 03 năm 2012.

4)    Quyết định số 4260/QĐ-UBND ngày 19/12/2005 của UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế V/v Ban hành Quy chế Quản lý khai thác thủy sản đầm phá Thừa Thiên – Huế.

5)    Quyết định số 2676/2007/QĐ-UBND ngày 11/10/2007 của UBND huyện Phù Mỹ V/v Ban hành Quy chế quản lý, khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đầm Trà Ô của UBND huyện Phù Mỹ.

6)    Xây dựng mô hình đồng quản lý thông qua thực hành trao quyền khai thác thủy sản ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Trương Văn Tuyến, Trường Đại học Nông Lâm Huế.

      7)  Dự án “Tăng cường cơ hội tiếp cận đất và mặt nước cho cộng đồng vạn đò định cư ven

           đầm phá Tam Giang, Phú Vang, Thừa Thiên Huế” do tổ chức ICCO (Hà Lan) phối hợp với   

           Kerk in Actice tài trợ.

      8)  Dự án: Đồng quản lý tài nguyên ven biển miền Trung do IDRC (Canada) tài trợ.

      9)  Cho thuê mặt nước biển NTTS: Phải chấp nhận lợi ích đan xen. Phạm Khánh (Theo Báo

           NNVN)


VP Tỉnh Hội




CÁC TIN KHÁC
  BÀN VỀ GIAO QUYỀN SỬ DỤNG MẶT NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÙNG NƯỚC VEN BỜ TRONG ĐỒNG QUẢN LÝ (ĐQL)
  LỜI NGỎ
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang