Số lượt truy cập:   573478
New Page 9

AN TOÀN TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN

 

         An toàn trong khai thác thủy sản là sự đảm bảo an toàn về người và tài sản trong quá trình hoạt động khai thác, các tàu hoạt động khai thác thủy sản cần phải trang bị những dụng cụ, thiết bị cứu sinh, cứu thủng, thiết bị chữa cháy, đồ bảo hộ lao động cho người tham gia lao động. 

          1. Cứu sinh 

          Để đảm bảo an toàn cuộc sống trên biển, các tàu đều phải trang bị đầy đủ các phương tiện cứu sinh theo công ước quốc tế, đảm bảo an toàn sinh mạng của con người trên biển năm 1960. Mỗi thuyền viên cần phải hiểu biết về những trang thiết bị cứu sinh như thuyền cứu sinh, phao bè cứu sinh, phao cứu sinh cá nhân và có khả năng sử dụng chúng với hiệu quả cao nhất khi có người rơi xuống biển hay tàu gặp nạn. 

         - Xuồng cứu sinh: xuồng cứu sinh là một phương tiện cấp cứu tập thể dùng trên các tàu có kích thước lớn nhằm duy trì cuộc sống của cán bộ, thuyền viên khi tàu đắm và chờ đợi tàu cứu. Số lượng và kích thước của xuồng cứu sinh phụ thuộc vào kích thước của tàu và số lượng thuyền viên trên tàu. 

         Để đảm bảo cho người bị nạn ở trên xuồng có thể duy trì cuộc sống và tiếp tục hành trình, mỗi xuồng được trang bị lương thực, nước ngọt, thuốc cấp cứu, cột buồm, mái chèo, dầu thắp sáng, còi hoặc phương tiện để phát âm hiệu, máy thu phát tín hiệu…có đủ số lượng và chất lượng.

         Xuồng cứu sinh luôn được treo trên giá đỡ ở tư thế sẵn sáng làm việc. Xuồng phải được bảo quản, chăm sóc một cách thường xuyên và chu đáo, đảm bảo an toàn với độ tin cậy cao nhất. 

         - Bè cứu sinh: bè cứu sinh cũng là một phương tiện cấp cứu tập thể, gồm có hai loại: bè cứu sinh bơm hơi và bè cứu sinh loại cứng. Trên bè phải được trang bị đầy đủ các trang thiết bị theo quy định để giúp cho người ở trên bè có thể hoạt động bình thường. Số lượng người tối đa mà bè có thể chở được không vượt quá 25 người đối với loại bè bơm hơi và không vượt quá 30 người đối với loại bè cứng. 

        Bè bơm hơi phải được đặt trong hòm có sức nổi riêng và có khả năng chịu đựng sự hao mòn do môi trường. Hòm chứa bè phải được đặt ở nơi thuận tiện và có khả năng thả xuống nước nhanh chóng trong trường hợp cấp cứu. 

        Bè cứng cũng phải được đặt ở vị trí thuận lợi để khi cần thiết có thể sử dụng dễ dàng và trong điều kiện tàu bị đắm bè vẫn có thể nổi được.

         - Phao cứu sinh cá nhân: là một phương tiện cấp cứu dùng cho người. Phao được bố trí ở những nơi có khả năng ném nhanh xuống nước. Số lượng phao trang bị trên tàu tùy thuộc vào tính chất, cỡ loại và phạm vi hoạt động của tàu.       

         - Áo phao cứu sinh: cũng là một phương tiện cấp cứu cá nhân trên biển. Khi sử dụng, áo phao được buộc chặt vào người, giúp cho người bị nạn khi bất tỉnh vẫn có có khả năng nổi ngửa mặt khỏi mặt nước với tư thế nghiêng đứng về phía sau. Số lượng áo phao trang bị trên tàu tùy thuộc vào số lượng người trên tàu. Tất cả các tàu phải trang bị tối thiểu cho mỗi thuyền viên một áo phao đảm bảo chất lượng tốt. Phao phải được đặt ở nơi thuận tiện cho việc sử dụng khi cần. 

         - Cứu người rơi xuống biển: người ngã xuống nước khi tàu đang hoạt động trên biển là một tai nạn vô cùng nguy hiểm đối với người đi biển. Sự sống của người bị nạn phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng phát hiện và tốc độ của quá trình cứu vớt. Bởi vậy, khi có người rơi xuống biển phải tiến hành các công việc cứu vớt người bị nạn một cách khẩn trương, linh hoạt và thận trọng để có hiệu quả tốt nhất. Các công việc cần thực hiện là:                  

        + Bất kỳ một người nào khi phát hiện có người rơi xuống biển phải kịp thời ném nhiều phao cứu sinh cá nhân cho người bị nạn. Đồng thời thông báo cho người trực ca và thuyền viên trên tàu biết về phía mạn tàu xảy ra tai nạn. 

        + Người trực ca phải cho bẻ lái về phía người bị nạn để cho đuôi tàu tách xa ra và tránh cho người bị nạn không bị hút vào chân vịt. Đồng thời tiến hành điều động cứu người bị nạn bằng phương pháp thích hợp với điều kiện thực tế. 

        + Để tăng hiệu quả cứu vớt, thuyền trưởng phải treo cờ chữ “O” hoặc phát tín hiệu “có người rơi xuống biển” bằng bất kỳ phương pháp nào để cho các tàu trong vùng biết và có biện pháp giúp đỡ. 

        + Khi có báo động “có người rơi xuống biển”, các thủy thủ phải tiến hành chuẩn bị các phương tiện cứu vớt theo sự phân công để vớt người bị nạn. 

        + Khi tàu tiếp cận người bị nạn phải hết sức thận trọng để tránh tai nạn lườn tàu đè lên người hoặc gây nên va đập, nhất là trong điều kiện sóng to gió lớn… 

        + Để đảm bảo an toàn cho người bị nạn, phải dừng tàu ở khoảng cách 20-30m và dùng xuồng cứu sinh tiếp cận nạn nhân. Trong trường hợp sóng to gió lớn, không có khả năng thả xuồng cứu sinh, có thể điều động tàu đến dưới gió ở khoảng cách nhỏ, dùng dây buộc vào phao cứu sinh thả xuống nước cùng với một thủy thủ có khả năng bơi tốt để dìu người bị nạn về sát mạn tàu và đưa lên tàu. 

         2. Cứu thủng 

         Thủng tàu có nghĩa là phần vỏ tàu ở dưới nước hoặc gần mép nước bị hư hỏng và nước có thể vào tàu. Tàu bị thủng có thể dẫn đến thiệt hại lớn về người và tài sản. Vì vậy, khi tàu gặp nạn thuyền trưởng phải kịp thời cho tàu dừng máy và tiến hành các công việc nhằm hạn chế nước chảy vào tàu, đảm bảo an toàn tính mạng thuyền viên và tài sản trên tàu. Các công việc cần thực hiện để cứu thủng là: 

           Tiến hành xác định vị trí, kích thước lỗ thủng và lưu lượng nước chảy qua lỗ thủng đó. Khi có lệnh báo động của thuyền trưởng các thủy thủ phải có mặt ở các vị trí đã quy định để tiến hành các công việc cần thiết. 

           Đóng kín các cửa hầm kín nước giữa các hầm thủng với những hầm kế cận, dùng máy bơm hút nước ra ngoài. 

           Dùng các dụng cụ chống thủng sẵn có trên tàu để bịt kín tạm thời lỗ thủng. Trường hợp tàu bị thủng nặng phải phát tín hiệu cấp cứu để các tàu khác đến cứu giúp hoặc kéo về cảng gần nhất để sửa chữa. 

           Khi gặp nạn, thuyền trưởng phải bình tĩnh, đôn đốc các bộ phận tiến hành các công việc một cách khẩn trương để quá trình cấp cứu có hiệu quả tốt nhất. 

           Các dụng cụ cứu thủng thường được sử dụng trên tàu để tự cứu tạm thời khi xảy ra tai nạn gồm có nệm và chốt gỗ, nắp vịt, gỗ chống thủng, thảm bạt cứu thủng, xi măng, cát, sỏi… 

         3. Cứu tàu bị mắc cạn 

         Tàu bị cạn là một tai nạn nguy hiểm có thể dẫn đến thiệt hại về người và tài sản. Khi có tai nạn xảy ra, thuyền trưởng và thủy thủ ca trực phải bình tĩnh, đôn đốc thuyền viên làm tốt các công việc để cứu tàu ra khỏi bãi cạn và tiến hành khi tàu bị cạn như sau: 

         - Khi tàu bị cạn cần phải lập tức dừng máy và thông báo cho toàn tàu biết về tai nạn. 

         - Các thủy thủ khi nhận được thông báo phải nhanh chóng đến vị trí đã được phân công để tiến hành công việc của mình. 

         - Kiểm tra vỏ tàu để kịp xử lý nếu bị thủng. 

         Xác định hướng đi của tàu trước khi bị cạn và hướng của tàu nằm trên bãi cạn để biết được tàu bị cạn ở mạn nào. 

         Nếu tàu bị cạn ở vùng biển có thủy triều thì cần phải tính toán mực nước hiện tại và mực nước sắp tới. 

         Tìm hiểu chính xác về thời tiết hiện tại và sắp tới của khu vực biển đó để kịp thời đề phòng hiện tượng bất trắc, bảo đảm an toàn cho tàu và định thời gian rời cạn. 

         Nếu tàu bị cạn ở khu vực có gió và dòng chảy thì phải xác định được hướng và cường độ của chúng để tránh hiện tượng dòng chảy làm tăng mức độ nguy hiểm của tai nạn. 

         Xác định vị trí chính xác của tàu khi bị cạn, tiến hành đánh dấu vị trí nguy hiểm lên hải đồ để đề phòng, tránh tai nạn trong những lần điều động sau. 

          Xác định thế của tàu trên bãi cạn, để biết tàu có khả năng bị lật hay không để có biện pháp xử lý. 

          Sau khi tính toán và làm tốt công tác chuẩn bị, tiến hành đề ra phương pháp đưa tàu rời khỏi bãi cạn thích hợp nhất. 

          4. Chữa cháy 

          Cháy xảy ra trên tàu là một tai nạn rất nguy hiểm, có thể gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. 

          Ba yếu tố cần thiết gây nên cháy là: chất cháy, sự cung cấp oxygen và nhiệt. Để dập cháy ta chỉ cần loại bỏ một trong ba yếu tố trên. 

          Trên tàu cần trang bị các thiết bị chữa cháy là hệ thống bơm nước chữa cháy thông thường, hệ thống phun nước tự động, hệ thống tạo sương (từ nước), hệ thống CO2, hệ thống chữa cháy bằng hơi nước, thiết bị chữa cháy bằng khí trơ. Các thiết bị báo cháy và báo động như: thiết bị báo cháy tự động, thiết bị báo cháy bằng điện; các dụng cụ khác như còi, chuông…Các dụng cụ chữa cháy như: bơm di động, bơm tay, bình chữa cháy, bình chữa cháy bằng bột khí, bình chữa cháy hóa học xách tay, thùng, xô, cát, xẻng, rìu, câu liêm, thang, búa, quần áo chống cháy… 

         Tùy thuộc vào kích thướcc tàu và sự cần thiết mà các tàu trang bị các thiết bị và dụng cụ chữa cháy cho phù hợp. 

         Các phương pháp cơ bản để chữa cháy trên tàu như sau: 

         - Tách chất cháy được ra khỏi lửa. 

         - Loại oxy trong không khí; trong thực tế chỉ cần giảm lượng oxy trong không khí xuống còn 15%; bằng cách đậy kín đám cháy sẽ được dập tắt. 

         - Hạ thấp nhiệt độ của chất cháy đến mức mà nó không giải phóng ra đủ khí cháy để duy trì sự cháy. 

         Ngoài các biện pháp chữa cháy, công tác phòng cháy cũng rất quan trọng. Để tránh việc xảy ra cháy trên tàu cần chú ý các yêu cầu sau:     

         - Thường xuyên kiểm tra tình trạng kỹ thuật của các hệ thống thiết bị báo cháy, thiết bị và dụng cụ chữa cháy, phát hiện kịp thời các hư hỏng và thiếu hụt của chúng, sửa chữa và bổ sung theo quy định của đăng kiểm. Kiểm tra và phát hiện kịp thời các dấu hiệu và khả năng gây cháy như chập điện, phóng tia lửa điện…Kiểm tra thường xuyên việc chấp hành các quy định về cất giữ, bảo quản các chất dễ cháy nổ. Đề phòng việc tích dầu mỡ trong các ống hơi, ống khói bếp. Phát hiện sớm các mùi lạ do cháy gây ra, có biện pháp ngăn chặn cháy kịp thời.     

        - Tiến hành định kỳ việc thực tập chữa cháy trên tàu.

Bùi Văn Tùng

Nguồn: Bách khoa thủy sản  

Hội Nghề cá Việt Nam

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang