Số lượt truy cập:   573470
New Page 9

CÁC NGƯ CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC CẤM SỬ DỤNG

 

    1. Hệ sinh thái và các tác động của loài người 

          Nguồn lợi hải sản là một bộ phận trọng yếu của mọi hệ sinh thái biển, sự biến động liên tục của chúng thể hiện tính linh động, không bền của hệ sinh thái mà quần thể đang tồn tại. Các hoạt động đánh bắt hải sản hoặc khai thác các cấu trúc trong một hệ sinh thái đều có ảnh hưởng đến tính bền vững, ổn định của hệ sinh thái. Mức độ ánh hưởng phụ thuộc vào phương pháp khai thác, số lượng cấu trúc bị khai thác và số hoạt động của loài người gây hại cho các hệ sinh thái đó. Một số hoạt động của loài người gây hại cho các hệ sinh thái biển như khai thác quá mức các nguồn lợi hải sản, sử dụng các ngư cụ có hại, tàn phá rạn san hô, phá rừng, sử dụng chất độc, chất nổ, các hoạt động nuôi trồng… 

          2. Ngư cụ và phương pháp khai thác hủy diệt 

          Hầu hết các hoạt động sử dụng tài nguyên biển đều có ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển, mức độ ảnh hưởng tùy theo mức độ và phương pháp sử dụng. Trên quan điểm khai thác các nguồn lợi hải sản, ngư cụ và phương pháp khai thác hủy diệt là các ngư cụ và phương pháp sử dụng để đánh bắt các loại hải sản, khai thác các cấu trúc biển có ảnh hưởng rất tiêu cực cho hệ sinh thái, bao gồm môi trường nước, quần xã sinh vật, cấu trúc biển…

          3. Sử dụng chất nổ 

         Hình thức khai thác hải sản này đã được sử dụng từ rất lâu, phát triển rộng khắp trên phạm vi toàn cầu. Do tác hại của việc sử dụng chất nổ trong khai thác hải sản nên các quốc gia, các tổ chức nghề cá đều đã có các luật, quy định cấm hình thức đánh bắt này. Tuy nhiên, do ham mối lợi trước mắt và sự quản lý thiếu nghiêm khắc nên ở nước ta, mặc dù đã có nhưng quy định pháp luật ngăn cấm nhưng hoạt động đánh cá bằng chất nổ vẫn còn diễn ra phổ biến ở nhiều tỉnh ven biển. Khi dùng chất nổ đánh cá, tất cả cá lớn, cá bé, trứng cá, sinh vật phù du, rạn san hô, sinh vật đáy đều bị chết hoặc phá hủy. Trong khi đó người đánh cá chỉ bắt đựơc một phần nhỏ của số cá bị chết. Tác hại của việc dùng chất nổ để khai thác hải sản là rất lớn đối với môi trường sinh thái. 

         4. Sử dụng chất độc 

        Hàng năm, hàng trăm kilogram chất độc như cyanide được sử dụng để khai thác hải sản. Người ta sử dụng chất độc làm chết hoặc tê liệt các loài cá rồi tiến hành đánh bắt chúng. Đối tượng đánh bắt của hình thức này chủ yếu là các loài cá sống trong rạn san hô phục vụ nhu cầu thực phẩm hoặc nuôi cá cảnh. Bên cạnh việc giết hại các cá thể trưởng thành nó còn gây thảm họa cho các cá thể nhỏ hơn hoặc các loài thực vật ít có khả năng kháng cự với chất độc. Hơn nữa, chất độc còn làm chết hoặc làm thoái hóa rạn san hô mà phải mất nhiều thời gian mới có khả năng khôi phục lại được.  

         5. Sử dụng xung điện 

         Hiện tượng sử dụng xung điện để đánh bắt tôm, cá đang diễn ra khá phức tạp ở nhiều địa phương. Phương pháp kích điện cũng được sử dụng rộng rãi để khai thác các loài thủy sản khác trong các ao, hồ, đầm, phá…Khi dùng kích điện tạo dòng điện mạnh sẽ làm chết hoặc tê liệt các loài thủy sản. Ngoài ra, vùng nước có dòng điện làm việc cũng bị giảm chất lượng do hàng loạt các phản ứng điện hóa, sự chết hoặc thoái hóa của các sinh vật phù du, sinh vật đáy, thảm thực vật…làm thức ăn và là nơi trú ẩn của nhiều loài thủy sinh vật. 

          6. Đánh bắt trứng và cá non 

          Các hoạt động này thường thấy ở các tỉnh miền Trung. Người ta thường lặn xuống nước, nơi đẻ trứng các đàn cá hoặc có các ấu trùng cá non sinh sống bắt, lượm cá non, trứng cá phục vụ cho các cơ sở nuôi trồng. Đối tượng khai thác là tôm hùm non, cá song, mực lá…Các hoạt động này làm giảm lượng bổ sung vào quần đàn trưởng thành, suy thoái nguồn lợi, mất cân bằng sinh thái. 

         7. Đánh bắt nhiều sản phẩm phụ 

         Nguồn lợi thủy sản ngày càng khan hiếm, ngư dân có xu hướng sử dụng các ngư cụ không có tính chọn lọc để đánh bắt tất cả các loại. Sản phẩm khai thác được bao gồm các loài cá có và không có giá trị thương phẩm. Họ vứt bỏ sản phẩm đã chết, không có giá trị xuống biển làm hư hỏng môi trường, mất cân bằng sinh thái. 

         8. Đánh bắt tập trung và quá mức cho phép 

         Trong hệ sinh thái, vào thời điểm nhất định, có những đối tượng có giá trị kinh tế cao, ngư dân tập trung khai thác đối tượng này cho đến lúc cạn kiệt dẫn đến hiện tượng mất cân bằng sinh thái. Có nhiều loài ở biển nước ta trong tình trạng này như cá sủ, cá giống, cá chình…Tương tự, đối với nhóm loài hoặc quần xã sinh vật trong một vùng biển nào đó bị khai thác quá mức cho phép, tổng trữ lượng đàn cá ngày càng giảm, các hệ sinh thái mất cân bằng, tính ổn định bị phá vỡ… 

         9. Lưới kéo tầng đáy 

        Trong quá trình đánh bắt, giềng chì của lưới kéo chuyển động chà xát với đáy biển làm phá vỡ các cấu trúc đáy biển như thảm cỏ biển, rạn san hô…làm hư hỏng môi trường sống của các sinh vật tầng đáy và gần đáy. Ngoài ra, lưới kéo đáy còn đánh bắt nhiều loài cá non, cá tạp không có gía trị kinh tế ngoài mong muốn của con người. Trên thế giới, nhiều nước như Inđônêsia…đã cấm sử dụng lưới kéo đáy, một số nước khác cấm theo mùa, theo vùng nước, hiện nay một số nước có luật quy định về sử dụng lưới kéo có tính chọn lọc cao. 

        10. Te (xiệp) 

         Tương tự như lưới kéo, trong quá trình làm việc, miệng te và một số bộ phận khác tiếp xúc với nền đáy làm phá vỡ cấu trúc tự nhiên của nền đáy. Hơn nữa, nghề te, xiệp thường hoạt động ở vùng nước gần bờ, ở các bãi bồi, nơi tập trung nhiều đàn cá đẻ trứng và cá con sinh sống. Một số tàu làm nghề te, xiệp ở một số địa phương còn sử dụng thuốc nổ để đánh bắt các đàn cá. Nhận thức được tác hại của nghề te, xiệp đối với nguồn lợi thủy sản, các cấp ngành, địa phương đã có những hướng giải quyết nhằm hạn chế tối thiểu số lượng tàu nghề te, xiệp hoạt động. 

         11. Lưới đáy 

         Là loại ngư cụ được đặt cố định ở một vị trí nào đó, nơi có dòng chảy thường xuyên, thường là các cửa sông, gần đảo…Do được đặt cố định nên lưới đáy không có khả năng phá hủy các cấu trúc biển. Tuy nhiên, lưới đáy thường có kích thước mắt lưới nhỏ và được đặt ở vị trí chắn ngang đường di cư đi đẻ của các đàn tôm, cá bố mẹ hoặc các đàn cá non trong quá trình sinh trưởng. Vì vậy, lưới đáy có tác hại làm giảm lượng bổ sung quần đàn và mức độ phong phú của nguồn lợi hải sản.

         12. Lưới rê tầng đáy và ngư cụ ma 

         Lưới rê có dạng tường lưới được thả trôi theo dòng chảy trên nền đáy, quanh các bãi rạn hoặc đá ngầm. Trong quá trình trôi lưới, lưới rê có thể quét qua và làm vướng vào san hô, rạn đá. Do mắc chướng ngại vật hoặc mất phao tiêu hoặc rách cục bộ, khi thu lưới không thu hết được các phần lưới đã thả, phần lưới còn lại sẽ tiếp tục đánh bắt gây hiện tượng lãng phí vô ích. Hiện tượng một phần ngư cụ bị mất hoặc bỏ quên này vẫn còn khả năng khai thác gọi là ngư cụ ma. Ngư cụ ma từ lưới rê có thể tiếp tục tiêu diệt các sinh vật vướng vào nó đến 6 năm sau. 

         Ngoài ra, còn nhiều ngư cụ và phương pháp khai thác mang tính hủy diệt, có ảnh hưởng tiêu cực đến cân bằng sinh thái các vùng biển như lưới vây, lưới rê làm chết các loài thú biển, nghề câu làm chết nhiều loài chim biển, các nghề săn bắt cá voi, hải cẩu…. Bên cạnh các ngư cụ và phương pháp có hại trực tiếp đến các hệ sinh thái biển, các hoạt động nuôi trồng, giao thông vận tải, du lịch…cũng có các ảnh hưởng gián tiếp đến môi trường, sự cân bằng sinh thái và sự phong phú của nguồn lợi hải sản. 

        13. Dấu hiệu và hậu quả của hoạt động khai thác hủy diệt 

        Nhu cầu thực phẩm ngày càng nhiều, áp lực khai thác các nguồn lợi thủy sản ngày càng cao và khoa học công nghệ ngày càng phát triển. Vì vậy, nguồn lợi thủy sản đã và đang ở tình trạng bị khai thác quá mức, các hệ sinh thái biển và tính đa dạng về nguồn gien đang bị đe dọa nghiêm trọng. Đối với nguồn lợi thủy sản, sự phát triển cân bằng bị phá vỡ, nguy cơ suy giảm nguồn lợi thể hiện qua các hiện tượng sau đây: 

         - Sự biến mất hẳn hoặc trong thời gian dài của một loài hoặc một nhóm loài thủy sản nào đó. 

         - Sự xuất hiện nhiều hoặc xuất hiện mới của một loài hoặc nhóm loài nào đó.

          - Năng suất khai thác ngày càng giảm. 

         - Kích thước sản phẩm khai thác giảm theo thời gian. 

         - Tỉ lệ cá tạp, cá con xuất hiện ngày càng nhiều trong các mẻ lưới. 

          Khi nguồn lợi thủy sản trong vùng bị khai thác quá mức, mức độ phong phú về nguồn lợi và nguồn gien giảm sút nhanh chóng. Hoạt động kinh tế bị đình trệ, hàng loạt tàu khai thác không sản xuất, lao động dư thừa, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn.

Vũ Duyên Hải

Nguồn: Bách khoa thủy sản 

Hội Nghề cá Việt Nam

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang