Số lượt truy cập:   573482
New Page 9

KHAI THÁC THỦY SẢN BẰNG LƯỚI RÊ

 

            1. Lưới rê 

            Lưới rê là loại ngư cụ hoạt động theo phương pháp bị động, lưới trôi theo dòng chảy hoặc được thả chắn ngang đường đi của cá và một số loài thủy sản khác (khi gặp lưới chúng mắc phải mắt lưới hoặc quấn vào lưới). 

            Lưới rê có thể đánh bắt được ở nhiều tầng nước khác nhau, cả gần bờ và xa bờ. Đối tượng khai thác chính của nghề lưới rê là các loại cá, cua ghẹ, mực nang, một số loài tôm…Tùy theo đối tượng khai thác mà cấu tạo và kích thước của lưới rê khác nhau. Thông số cơ bản của một số loại lưới rê xem bảng 2. 

             2. Phân loại 

            Có thể phân loại lưới rê như sau: 

            - Phân loại theo tầng nước hoạt động có lưới rê nổi, lưới rê đáy.

            - Phân loại theo cấu tạo có lưới rê một lớp, lưới rê nhiều lớp, lưới rê nhiều tầng…

            - Phân loại theo nguyên lý đánh bắt có lưới rê cố định, lưới rê trôi, lưới rê tự động chìm nổi.

            - Phân loại theo đối tượng đánh bắt có lưới rê thu ngừ, lưới rê trích, lưới rê chuồn, lưới rê tôm, lưới rê mực…

            3. Cấu tạo 

            Lưới rê có cấu tạo đơn giản gồm các tấm lưới hình chữ nhật được lắp ráp giềng phao, giềng chì, phao, chì tạo thành các cheo lưới, các cheo lưới ghép lại với nhau tạo thành vàng lưới rê. Tùy thuộc vào đối tượng đánh bắt, nhu cầu và khả năng nguồn vốn mà các vàng lưới rê có cấu tạo và kích thước khác nhau. 

            3. 1. Áo lưới 

            Áo lưới là những tấm lưới hình chữ nhật do đan hoặc dệt tạo thành, kích thước mắt lưới của lưới rê phải phù hợp với đối tượng đánh bắt. Thùy theo đối tượng đánh bắt mà mỗi loại lưới rê sử dụng áo lưới với quy cách và màu sắc khác nhau. 

           3. 2. Dây giềng 

            Dây giềng phao được lắp phao và giềng chì được lắp chì để định hình tấm lưới trong nước. 

           3. 3. Phao và chì 

            Phao lưới rê được làm từ nhiều loại vật liệu khác nhau như nhựa, xốp tổng hợp. Số lượng và kích thước phao tùy thuộc vào yêu cầu kỹ thuật và vật liệu chế tạo phao. 

            Chì lưới rê được làm bằng chì (Pb) hoặc đá hoặc vật liệu khác có hình trụ…số lượng tùy theo loại vật liệu và yêu cầu khai thác. 

             4. Một số loại lưới rê

 

            4. 1. Lưới rê trôi tầng mặt 

            Đối tượng đánh bắt là các loài cá nổi như cá thu, cá ngừ, cá trích, cá chuồn…Lưới rê được thả nổi hoặc trôi tự do trong quá trình hoạt động trong nước (hình 32)   

 

            4. 2. Lưới rê tầng đáy 

            Đối tượng đánh bắt của lưới rê tầng đáy (hình 33) là các loài hải sản sống ở đáy hoặc gần đáy như cá hồng, cá song, cá sạo, cua, ghẹ… và một số loài hải sản khác. 

            Kích thước mắt lưới thay đổi tùy thuộc vào đối tượng đánh bắt. Nếu đánh bắt cá lượng, cá phèn kích thước mắt lưới 2a = 40-70mm, đánh bắt cá mú, cá hồng dùng mắt lưới 2a = 150-180mm…Vật liệu dùng trong nghề lưới rê đáy thường là polyamit sợi đơn đường kính d = 0,06-0,85mm. Rê cá mập, cá đường dùng nguyên liệu PA sợi xe 210D/75. Chiều dài 1 vàng lưới rê đáy thường từ 3000-12.000m, chiều cao từ 3-7m. 

   

            4. 3. Lưới rê cố định  

            Cấu tạo và đối tượng đánh bắt giống như lưới rê trôi. Tùy đối tượng đánh bắt mà khi cần người ta có thể cố định vàng lưới bằng neo hoặc vật nặng dưới giềng chì để không cho vàng lưới di chuyển trong nước. 

            4. 4. Lưới rê 3 lớp 

            Lưới rê 3 lớp gồm 1 tấm có kích thước mắt lưới nhỏ ở giữa và 2 tấm có kích thước mắt lưới lớn ở hai bên. Tấm có kích thước mắt lưới nhỏ nằm ở giữa hai tấm có kích thước mắt lưới lớn. Các tấm được liên kết lại với nhau thông qua hệ thống dây giềng (hình 34). 

  

Bảng 2. Thông số cơ bản của các loại lưới rê ở Việt Nam 

TT

Tên loại lưới rê

Vật liệu

Quy cách

Kích thước mắt lưới 2a (mm)

Hệ số rút gọn ngang

Kích thước tấm lưới (m)

Số lượng tấm cho một tàu

1

 

Lưới rê cá thu, cá ngừ

Nilon

210D/15,

210D/18

100-105

0,5

L=50-60

H=18-20

100-300

2

Lưới rê cá trích

PA mono

210D/2

Số 25

30-36

0,5 -0,6

 

L=50-60

H=4,5-12

10-100

 

3

Lưới rê cá chim

PA mono

Số 35-45

160-200

0,45

L=50

H=5

20-40

4

Lưới rê cá nhụ

PA mono

Số 45

90

0,45

L=50

H=5

20-40

5

Lưới rê cá nhám, cá mập

PA

210D/75

90-400

0,4 -0,5

L=50

H=3-7

60-100

6

Lưới rê trôi tầng đáy

PA mono

Số 40

40-90

0,4 -0,5

L=50

H=4 -4,5

40

7

Lưới rê cá chuồn

PA mono

Số 35

30

0,55

L=50

H=1,6

30-60

8

Lưới rê cá đáy

PA

PA mono

210D/36

Số 45

200

0,5

L=50

H=7

40-60

9

Lưới rê mực nang ba lớp

Lớp trong

PA

210D/2

Số 25

80

0,5

L=50

H=2-2,5

20-30

Lớp ngoài

PA

210D/6

400

0,7

10

Lưới rê tôm ba lớp

Lớp trong

PA

110/2

48-50

0,5

L=50

H=1,8

10-20

Lớp ngoài

PA

210D/9

300

0,7

11

Lưới rê ghẹ, cua

PA

210D/6, 210D/9

120

0,5

L=50

H=0,8-1

10-20

 

            5. Kỹ thuật khai thác 

            5. 1. Kỹ thuật khai thác lưới rê trôi 

            - Thả lưới: Khi tàu chạy tới ngư trường, thuyền trưởng xác định hướng nước, hướng gió để quyết định hướng thả lưới. Tốc độ thả lưới thường từ 2-4 hải lý/giờ tùy thuộc vào điều kiện sóng, gió và nước. Hướng thả chếch với hướng nước một góc nhất định. Lưới rê được thả theo thứ tự từ phao cờ đầu lưới đến phao cờ cuối lưới.           

            - Ngâm lưới: Tùy thuộc vào tình hình trên biển thuyền trưởng quyết định thời gian ngâm lưới. Trong quá trình ngâm lưới, người trực ca phải thường xuyên quan sát khu vực thả lưới tránh sự cố xảy ra.

- Thu lưới và xử lý sản phẩm khai thác: 

            + Khi thu lưới thuyền trưởng điều khiển tàu luôn nằm ở vị trí dưới gió lưới. Trong quá trình thu lưới, phải kiểm tra xếp phần lưới nào bị rách riêng ra để sửa chữa kịp thời.

            + Sau khi gỡ hết cá thì sẽ tập trung vào việc xử lý và sơ chế, bảo quản sản phẩm. Sau đó kiểm tra lại ngư cụ, các trang thiết bị chuẩn bị cho mẻ sau. 

            5. 2. Kỹ thuật khai thác lưới rê cố định 

            Kỹ thuật khai thác cũng tương tự như kỹ thuật khai thác lưới rê trôi. Khi thả lưới rê cố định, người ta thường thả thêm neo, hoặc vật nặng để cố định vàng lưới ở đáy biển.           

            Nghề lưới rê tuy có nhiều ưu điểm như khai thác chọn lọc, khai thác được ở vùng biển có đáy biển phức tạp, ít tiêu tốn năng lượng, đối tượng khai thác có đối tượng cao. Tuy nhiên, vào năm 1995, Liên hợp Quốc đã thông qua Công ước cấm hẳn nghề khai thác bằng lưới rê có kích thước lớn (vàng lưới có chiều dài lớn) trên phạm vi toàn thế giới. Nhiều nước và vùng lãnh thổ có nghề lưới rê đại dương rất phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… đã chuyển đổi các hạm đội tàu lưới rê sang nghề khác. EU mặc dù có nghề lưới rê phát triển và có đóng góp quan trọng cũng tuyên bố sẽ chấm dứt khai thác bằng nghề lưới rê vào năm 2006. Như vậy, nghề lưới rê thực tế là không có tương lai. Rồi đây các nước nhập khẩu nhiều như Mỹ, Nhật Bản, EU… sẽ phải gắn chính sách nhập khẩu với vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên hoang dã và sẽ đề cập đến Công ước về việc cấm lưới rê của Liên Hiệp Quốc. Vì vậy, khi đề cập đến khai thác hải sản bằng lưới rê, trong đó các đối tượng xuất khẩu như cá ngừ, mực, tôm… cần phải lưu ý đến vấn đề này.

Nguyễn Phi Toàn

Lại Huy Toản

Nguồn: Bách khoa thủy sản

 Hội Nghề cá Việt Nam

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang