Số lượt truy cập:   573486
New Page 9

KHAI THÁC HẢI SẢN BẰNG LƯỚI KÉO

 

            1. Giới thiệu 

Lưới kéo là một trong những ngư cụ quan trọng nhất trong nghề khai thác hải sản, nó có thể đánh bắt ở mọi vùng nước, tầng nước, đối tượng đánh bắt đa dạng và thường đạt hiệu quả cao. 

            Hiện nay ở Việt Nam, nghề lưới kéo cũng có những vị trí quan trọng vì sản lượng khai thác hàng năm của nghề này chiếm khoảng 40% tổng sản lượng khai thác cá biển, số lượng tàu thuyền của nghề lưới kéo chiếm khoảng 27% tổng số tàu thuyền lắp máy của cả nước. 

            Lưới kéo là ngư cụ chủ động, hoạt động theo nguyên tắc lọc nước lấy cá. Lưới có dạng như một cái túi được kéo trong nước nhờ sức kéo của tàu thuyền thông qua hệ thống dây cáp kéo. 

            2. Phân loại

Lưới kéo sử dụng để khai thác hải sản rất đa dạng, thường được phân loại như sau: 

            - Theo đối tượng đánh bắt có lưới kéo tôm, lưới kéo cá… 

            - Theo cách thức mở của miệng lưới có lưới kéo ván, lưới kéo khung… 

            - Theo vị trí làm việc có lưới kéo tầng giữa, lưới kéo tầng đáy. 

            - Theo số lượng tàu kéo có lưới kéo đơn, lưới kéo đôi.  

            - Theo loại tàu thuyền kéo lưới kéo thủ công, lưới kéo cơ giới.           

            Lưới kéo tầng gữa là loại lưới kéo được sử dụng để khai thác các loại hải sản ở tầng trên như cá ngừ, cá trích, cá nục…lưới kéo tầng giữa được phân biệt với các loại lưới kéo khác nhờ các đặc điểm đặc trưng như: áo lưới có dạng đối xứng, có thể điều chỉnh độ sâu làm việc của lưới phù hợp với độ sâu di chuyển của đàn cá …Lưới kéo tầng giữa đã được đánh bắt thử nghiệm ở vùng biển Việt Nam nhưng hiệu quả khai thác thấp nên chưa được sử dụng rộng rãi để đánh bắt hải sản. 

Lưới kéo tầng đáy được sử dụng phổ biến để đánh bắt các loài hải sản sống ở tầng đáy và gần như cá bơn, cá lượng, mực… 

Lưới kéo khung là kiểu lưới đáy sơ khai và cổ điển nhất. Đặc điểm khác biệt của lưới kéo khung so với các loại lưới kéo khác là áo lưới không có cánh lưới, miệng lưới được mở cố định bởi sào (khung) cứng gắn vào miệng lưới. Đối tượng đánh bắt chủ yếu của lưới khung là các loài tôm và các loài hải sản khác sống sát đáy. Lưới kéo khung thường được sử dụng trên các thuyền thủ công hoặc trên các tàu lắp máy công suất nhỏ. 

Lưới kéo đơn tầng đáy có áo lưới dạng hình túi, gồm: cánh lưới, thân lưới, túi lưới. Miệng lưới được mở ngang nhờ hai ván lưới và mở đứng nhờ có giềng phao và giềng chì. Đối tượng đánh bắt khá đa dạng, gồm các loài tôm cá, tôm, cua, mực…sống sát đáy và gần đáy 

Lưới kéo đôi tầng đáy có kết cấu áo lưới tương tự lưới kéo đơn tầng đáy. Miệng lưới mở theo chiều ngang nhờ hai tàu kéo và mở theo chiều đứng nhờ hệ thống phao trên có giềng phao và giềng chì. Ưu điểm nổi bật của lưới kéo đôi có thể tăng cường được sức kéo, hệ thống trang bị ngư cụ đơn giản. Đối tượng đánh bắt chủ yếu của lưới kéo đôi tầng đáy cũng giống như lưới kéo đơn. 

           3. Cấu tạo cơ bản 

            Lưới kéo tầng đáy thường có cấu tạo gồm các thành phần chủ yếu là: cánh lưới, thân lưới và túi lưới.

            Kích thước mắt lưới, độ thô chỉ lưới từng phần của lưới kéo được thay đổi tùy theo vị trí và tác dụng của lưới. Nhìn chung, kích thước mắt lưới thường giảm dần từ cánh đến túi, còn độ thô chỉ lưới giảm dần từ cánh đến cuối thân và tăng lên ở phần túi lưới.           

            Cấu tạo và hình dạng cơ bản của một số loại lưới kéo được thể hiện ở hình 18, hình 19 và hình 20.

 

           3. 1. Áo lưới

            Nhìn chung, áo lưới kéo bao gồm nhiều tấm lưới có kích thước khác nhau ghép lại tạo thành một túi lưới thon dần từ miệng lưới đến đụt lưới. Cấu tạo cơ bản áo lưới kéo như hình 21. 

Các tấm lưới tạo thành áo lưới có thể là tấm lưới hình thang, hình tam giác hoặc tấm lưới hình chữ nhật. 

Các kích thước cơ bản của áo lưới kéo có thể được xác định thông qua kích thước các bộ phận khác có liên quan của áo lưới như hình 22. 

 

            3. 2. Vật liệu áo lưới            

            Vật liệu làm áo lưới kéo thường dùng là chỉ lưới từ sợi Polyethlen (PE), Polyamit (PA).           

            Độ thô chỉ lưới phụ thuộc vào kích thước lưới, vật liệu sợi, mắt lưới và đối tượng đánh bắt. Độ thô chỉ lưới thường giảm dần từ cánh lưới đến đụt lưới. 

            Hiện nay, nhiều nước Tây Âu sử dụng vật liệu mới siêu bền (sợi tổng hợp Dynema) vào việc dệt các tấm lưới đã làm giảm đáng kể độ thô chỉ lưới của áo lưới kéo. 

            Kích thước mắt lưới giảm dần từ cánh đến đụt lưới, kích thước mắt lưới ở đụt thường từ 30-40mm. Tùy theo các mẫu lưới, kích thước mắt lưới ở cánh có sự khác nhau rất rõ rệt, nếu sử dụng lưới kéo truyền thống thì kích thước mắt lưới ở cánh thường 200-400mm, còn nếu sử dụng một số loại lưới kéo du nhập từ nước ngoài thì kích thước mắt lưới ở phần này có thể từ 1.000-8.000mm hoặc lớn hơn. 

           3. 3.  Dây giềng           

            Để tạo thành hệ thống lưới kéo có thể làm việc được trong nước cần phải lắp ráp áo lưới với một số dây mềm như giềng phao, giềng chì, dây giềng trống,…để tạo cho lưới có hình dáng nhất định. 

Dây giềng phao

Dây giềng phao được lắp dọc theo biên của hai cánh trên và phần lưới của lưới chắn. Giềng phao gồm có hai dây: dây giềng luồn và dây giềng băng. Trong đó, dây giềng băng thường có đường kính và có độ bền đứt lớn hơn. Phao được buộc vào giềng phao như hình 23a. Đối với các lưới có kích thước mắt lưới lớn, phao được buộc kẹp giữa hai dây giềng và được bao quanh bởi lưới tấm để tránh sự cố phao vướng vào mắt lưới như hình 23b. 

Dây giềng chì:  

Dây giềng chì được lắp dọc theo biên lưới của hai cánh chì và phần lưới của hàm chì. Tuy nhiên, tùy theo đối tượng đánh bắt và địa hình đáy biển, mà giềng chì của lưới kéo có cấu tạo cho phù hợp. Có ba loại giềng chì thường được sử dụng là giềng chì lắp chì hoặc xích, giềng chì mềm và giềng chì con lăn, như hình 24. 

Giềng chì lắp chì (xích) gồm: dây giềng luồn và dây giềng băng. Trên dây giềng băng có lắp chì hay xích (gọi là chì xích) hoặc hỗn hợp cả chì và xích. Tác dụng của giềng chì xích là làm bật lên khỏi đáy các đối tượng vùi sâu trong nền đáy nên phù hợp với đánh bắt tôm, mực, ở các vùng biển có đáy là: bùn, bùn pha cát…Loại giềng chì này được dùng phổ biến ở Việt Nam. 

Giềng chì mềm, ngoài giềng luồn và giềng băng  còn có giềng chì mềm (hình 24). Giềng chì mềm gồm có dây lõi cáp thép, cuốn quanh bởi sợi tổng hợp hoặc tự nhiên tạo nên dây có đường kính lớn từ 60-120mm. Sử dụng cho lưới kéo cá ở các vùng có đáy biển bằng phẳng. 

Giềng chì con lăn có cấu tạo khác với hai loại giềng chì nói trên bởi hệ thống giềng con lăn (hình 24). Hệ thống giềng con lăn là dây cáp thép có lắp các quả nặng hình cầu, hình đĩa, hình trụ (làm bằng thép, cao su, gỗ, nhựa). Đường kính của con lăn từ 0,15-0,5 m tùy theo địa hình đáy biển. Khi giềng chì tiếp xúc đáy biển, các con lăn có thể lăn hoặc trượt trên đáy biển giảm các tai nạn cho lưới. Cấu tạo giềng chì con lăn phù hợp cho việc đánh bắt đối tượng sống ở những vùng biển có đáy cứng ghồ ghề. 

Dây giềng trống (dây đầu cánh): 

 Dây giềng trống gồm hai dây giềng trống phao và giềng trống chì. Dây giềng trống dùng giữa đầu phao cánh, đầu cánh chì và dây đỏi hoặc ván lưới. Chiều dài dây giềng trống thường từ 1-50 m tùy theo đối tượng đánh bắt, kiểu lưới và kinh nghiệm sử dụng của ngư dân, có những mẫu lưới sử dụng chiều dài giềng trống lên tới hàng trăm mét. Dây giềng trống chì được làm bằng cáp bọc dây tổng hợp có đường kính lớn hơn giềng trống phao. 

Dây đỏi: 

Dây đỏi là dây nối dây giềng trống với dây kéo của lưới kéo đôi. Dây đỏi có tác dụng lùa cá vào vùng tác dụng của lưới và giúp cho giềng chì luôn chuyển động ở sát đáy. Chiều dài dây đỏi từ 60-200m. đường kính ngoài từ 60-120 mm. Chiều dài hai dây đỏi ở hai bên phải bằng nhau để tránh tai nạn cho lưới. 

Dây cáp kéo: 

Đối với lưới kéo tầng đáy, chiều dài dây cáp kéo được xác định bởi công thức hoặc bằng kinh nghiệm. Chiều dài dây cáp kéo phụ thuộc vào độ sâu của ngư trường, vào tốc độ dắt lưới. Tốc độ dắt lưới càng chậm, dây kéo đòi hỏi càng ngắn. Người ta thường sử dụng chiều dài cáp kéo bằng từ 3-14 lần độ sâu của ngư trường. Dây cáp kéo dùng cho các tàu lưới kéo cỡ lớn phải là dây cáp thép. 

Ván lưới: 

Ván lưới được sử dụng trên tàu lưới kéo đơn (hình 25), có tác dụng mở rộng miệng lưới theo chiều ngang. Đối với lưới kéo đáy, ván lưới còn có tác dụng làm cho đầu cánh lưới luôn đi sát đáy và lùa cá vào vùng tác dụng của lưới. 

         

            Ván lưới được lắp vào vị trí giữa dây kéo và dây giềng trống. Hình dạng của ván thường là hình chữ nhật, hình bầu dục hoặc hình chữ V đối với lưới kéo tầng đáy. Đối với lưới kéo tầng giữa thường dùng ván lưới hình chảo. Kích thước ván lưới phụ thuộc vào kích thước lưới và sức kéo của tàu, thuyền. 

Đế trượt: 

Đế trượt (hình 26) chỉ sử dụng cho lưới kéo sào (khung), hai đầu sào được lắp 2 đế trượt giúp cho lưới trượt trên nền đáy trong quá trình kéo lưới và độ mở ngang miệng lưới chính bằng chiều dài của sào. Có nhiều dạng đế trượt và chúng được làm bằng nhiều loại vật liệu khác nhau như bằng gạch, đá, thép và gỗ…Ngoài ra đế trượt còn giữ cho lưới luôn có độ mở cao ổn định nhờ chiều cao của nó. Như vậy sử dụng lưới kéo sào độ mở của miệng lưới luôn ổn định trong quá trình lưới làm việc. 

 

           4. Kỹ thuật khai thác 

            Mỗi loại lưới kéo như lưới kéo đôi, lưới kéo đơn…có kỹ thuật khai thác khác nhau, phù hợp với trang bị, cấu tạo của từng loại lưới. Quy trình tổng quát kỹ thuật khai thác nghề lưới kéo tầng đáy như sau: 

Chuẩn bị  ---> Thả lưới ----> Dắt lưới ----> Thu lưới ----> Lấy cá và xử lý sản phẩm -----> Chuẩn bị mẻ sau       

            4. 1. Kỹ thuật khai thác lưới kéo đôi 

             Chuẩn bị chuyển biển:            

             Công tác chuẩn bị là khâu quan trọng, quyết định hiệu quả sản xuất của chuyến biển. Thuyền trưởng lập kế hoạch hoạt động của chuyến biển như vị trí đánh bắt, thời gian hoạt động và lập kế hoạch hành trình. Trước khi đi biển, tàu phải lấy toàn bộ nhiên liệu, nước đá, muối. Ngư cụ và các loại vật tư khác cũng phải được chuẩn bị đầy đủ đảm bảo cho hoạt động khai thác trong cả chuyến biển 

             Điều động tàu trên ngư trường:            

             Thuyền trưởng lập kế hoạch hành trình và điều động tàu từ cảng đến ngư trường, phân ca trực lái tàu đảm bảo an toàn và đúng kế hoạch hành trình. Trong lúc tàu hành trình đến ngư trường, thuyền phó hoặc thủy thủ trưởng kiểm tra lưới, trang bị phụ tùng sẵn sàng cho việc thả lưới khi tàu đến ngư trường. 

             Thả lưới: 

             Trước khi thả lưới thuyền trưởng phải xác định hướng nước, hướng gió để lựa chọn vị trí thả lưới cho phù hợp. Sơ đồ thả lưới như hình 27. 

              Đến vị trí thả lưới hai tàu cách nhau khoảng 80-100m, tốc độ tàu giảm xuống còn 1-2 hải lý. Thuyền trưởng tàu 1 ra lệnh thả lưới, thủy thủ thả túi lưới, thân lưới xuống trước, rồi thả chì, phao và thả dây giềng trống. Sau đó tăng tốc độ lên 3-7 hải lý/giờ trong thời gian 5-10 phút để lưới và giềng trống căn đều. Trong khi đó tàu 2 tiến gần đến tàu 1. Trên tàu 1, thủy thủ chuyển dây mồi (nối với một đầu giềng trống) cho tàu 2. 

             Khi liên kết xong dây đỏi và dây giềng trống, hai tàu 1 và 2 cùng tăng tốc độ chạy tách dần ra để mở miệng lưới và thả tiếp dây cáp kéo đến độ dài cần thiết, lúc này hai tàu liên lạc với nhau để thống nhất hướng dắt lưới, tốc độ dắt lưới và điều chỉnh khoảng cách 2 tàu cho phù hợp. 

             Dắt lưới  

            Trong quá trình dắt lưới phải đảm bảo tốc độ và hướng dắt lưới của hai tàu giống nhau, khoảng cách giữa hai tàu luôn ổn định. Nhóm thủy thủ trực ca của 2 tàu có trách nhiệm thông tin cho nhau, phát hiện những chướng ngại vật trong suốt quá trình dắt lưới và giải quyết các sự cố xảy ra. Thời gian dắt lưới từ 3-5 giờ, tùy theo ngư trường và đối tượng đánh bắt. 

             Thu lưới:            

             Hai tàu thông tin cho nhau, thống nhất thời điểm thu lưới, thuyền trưởng của hai tàu cho tàu quay mũi về phía lưới, sau đó đưa dây kéo vào con lăn hướng cáp ở mũi tàu, vận hành máy tời thu dây cáp kéo, dây đỏi. Sơ đồ thu lưới như hình 28. 

             Khi thu xong dây đỏi, tàu 2 liên kết dây giềng trống với dây mồi và đưa dây mồi sang tàu 1. Đầu dây giềng trống được chuyển sang tàu 1 và việc thu giềng trống và thu lưới được tiến hành. Các thủy thủ tàu 1 vận hành máy tời thu dây cẩu, cẩu từng phần dây giềng trống và lưới lên tàu. Thủy thủ khác thắt dây cẩu và xếp dây giềng trống, thịt lưới. Lưới có thể được thu hết lên tàu hoặc chỉ thu lưới bằng việc thu dây kéo túi.

             Lấy cá và bảo quản sản phẩm: 

             Sau khi túi lưới đã được thu lên tàu, mở dây thắt túi để lấy sản phẩm khai thác ra khỏi túi lưới. toàn bộ thủy thủ tàu tập trung, phân loại sản phẩm theo từng loại, từng kích cỡ, rữa sạch bằng nước biển và đưa vào hầm bảo quản. Sản phẩm khai thác có thể được bảo quản bằng nước đá lạnh hoặc muối mặn hay phơi khô tùy theo chất lượng và loại sản phẩm. Đối với phương pháp bảo quản bằng nước đá lạnh, sản phẩm được đựng trong các khay nhựa (hoặc túi PE) từ 10-12kg/khay (hoặc 5-10kg/túi) để gảm sự dập nát, hư hỏng sản phẩm khai thác.            

             Chuẩn bị mẻ sau:            

             Toàn bộ sản phẩm khai thác được đưa vào hầm bảo quản, mặt boong thao tác được rửa sạch, dây giềng trống và lưới được sắp xếp theo đúng vị trí. Đối với phương pháp chỉ thu túi lưới lấy cá, việc thả lưới được thực hiện ngay sau khi lấy hết sản phẩm từ túi lưới. 

             5. Kỹ thuật khai thác lưới kéo đơn  

              Một số khâu trong quy trình kỹ thuật khai thác lưới kéo đơn giống với lưới kéo đôi. Tuy nhiên do trang bị phụ tùng khác nhau nên kỹ thuật thao tác thả và thu lưới khác nhau. 

             Thả lưới: 

             Khi tàu đến vị trí thả lưới thuyền trưởng ra lệnh thả lưới, các thủy thủ thả túi lưới xuống trước, phần thịt lưới, chì, phao xuống theo, rồi thả dây giềng trống. Sau khi thả hết dây giềng trống tàu tăng tốc độ trong khoảng từ 5-10 phút để cho miệng lưới và hệ thống dây giềng làm việc ổn định. Sau đó giảm tốc độ tàu, liên kết dây đuôi ván với khuyết đầu dây tam giác và tháo ván khỏi chốt hãm, mở máy tời tiếp tục thả dây cáp kéo đến độ dài cần thiết (lớn hơn độ sâu vùng biển từ 3-4 lần). Sau đó, hãm máy tời, điều chỉnh tốc độ tàu, hướng dắt lưới và phân công ca trực lái tàu dắt lưới. 

             Thu lưới: 

             Khi thu lưới tàu giảm tốc độ và mở máy tời thu dần dây cáp kéo, khi thu hết dây cáp kéo, hãm máy tời thu ván lưới, treo lên trên ròng rọc của giá ván sau đó mở liên kết giữa dây cáp kéo và gọng ván. Tiếp tục mở máy tời thu dây chuyển tiếp đến khi dây đuôi ván trùng thì hãm máy tời mở liên kết giữa dây đuôi ván và dây tam giác. Tiếp đến mở hãm thu dây tam giác và dây giềng trống. Khi thu hết giềng trống, đến đầu cánh lưới, thủy thủ đưa đầu dây cẩu về phía đuôi tàu thắt chặt các đầu cánh lưới về mạn phải của tàu. Thủy thủ khác mở máy tời thu dây cẩu bằng tang tời ma sát. Các thủy thủ khác tập trung ở khu vực mạn phải tiến hành thu và sắp xếp lưới. Hai dây cẩu luôn phiên kéo lưới lên tàu. 

             6. Các sự cố thường gặp và cách khắc phục 

             Trong quá trình lưới kéo hoạt động ở trong nước, đôi khi có các sự cố hoặc tai nạn xảy ra làm ảnh hưởng đến hiệu quả đánh bắt và an toàn của lưới. 

             Mắt lưới biến  dạng gây rách lưới: 

             Hiện tượng mắt lưới biến dạng gây ra ứng lực tập trung không đều trên áo lưới làm rách lưới. Sự cố này thường xảy ra ở lưới mới do công đoạn định hình, xử lý không tốt. Do vậy, để hạn chế sự cố này cần làm tốt khâu xử lý gút lưới và định hình tấm lưới trước khi lắp ráp lưới.          

             Lưới bị xoắn: 

             Hiện tượng này là do đầu cánh lưới ở vị trí trái ngược nhau hoặc do phao, chì xoắn vào nhau làm cho miệng lưới không mở được. Để hạn chế hiện tượng này khi thả lưới phải tiến hành đúng quy trình, đúng kỹ thuật, phải quan sát quá trình thả lưới nếu phát hiện điều gì đó không bình thường cần dừng ngay việc thả lưới để xử lý sự cố rồi tiếp tục thả lại.

             Rách hoặc mất lưới do vướng đá ngầm: 

             Sự cố này xảy ra khi dắt lưới trong khu vực địa hình đáy ghồ ghề, nhiều chướng ngại vật. Gặp phải sự cố này; tàu có thể bị dừng đột ngột, đứt dây kéo hoặc có tác động mạnh đột ngột vào tàu. Khi phát hiện thấy một trong các hiện tượng trên, tàu phải tiến hành thu lưới ngay và xử lý tai nạn, trường này dễ bị rách hoặc mất lưới. 

             Dây, lưới vướng vào chân vịt: 

             Sự cố này thường xảy ra khi thả hoặc thu lưới do không xác định đúng hướng nước, hướng gió hoặc vào lúc thu, thả lưới máy tàu có sự cố, tàu không thể điều động được làm cho dây hoặc lưới cuốn vào chân vịt khi sự cố này xảy ra cần tắt máy ngay và lặn xuống để gỡ phần dây và lưới cuốn vào chân vịt. Để hạn chế sự cố này phải thu, thả lưới đúng kỹ thuật, phù hợp với hướng gió và hướng nước. 

             Lưới bị vục bùn: 

             Khi lưới kéo làm việc ở vùng đáy là bùn hoặc bùn pha cát nếu giềng chì quá nặng hoặc do cân chỉnh ván không tốt làm cho lưới bị vục trong bùn, tàu không kéo nổi lưới. khi phát hiện tượng này xảy ra phải kéo lưới lên, cân chỉnh lại ván lưới hoặc điều chỉnh lại giềng chì, rồi thả tiếp mẻ sau.

Nguyễn Văn Kháng

Nguyễn Phi Toàn

Nguồn: Bách khoa thủy sản

Hội Nghề cá Việt Nam

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang