Số lượt truy cập:   574140
New Page 9

CÁC THÀNH PHẦN CẤU TẠO NÊN NGƯ CỤ

 

        Ngư cụ là công cụ để khai thác cá (hoặc các loài thủy sản khác) ở biển và ở các vực nước khác nhau. Từ xưa con người đã biết sử dụng các loại ngư cụ thô sơ (lao, xiên,) bằng đá, gỗ, xương, nanh thú. Việc xuất hiện các loại lưới đánh cá bện và đan bằng vật liệu xơ sợi thiên nhiên đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nghề cá. Ngày nay các loại lưới đánh cá, phần lớn được chế tạo bằng xơ sợi tổng hợp. 

        Phần lớn các ngư cụ đang sử dụng đều làm bằng những nguyên liệu tự nhiên hoặc nhân tạo, được gọi chung là vật liệu nghề cá. Hệ thống ngư cụ được liên kết bởi nhiều bộ phận và chi tiết khác nhau. Mỗi chi tiết trong hệ thống hoặc bộ phận của ngư cụ được đặc trưng bằng những vật liệu, công nghệ chế tạo và yêu cầu kỹ thuật phù hợp với chức năng của chúng. Ví dụ, áo lưới được đan bằng chỉ lưới theo các tiêu chuẩn của mắt lưới. Dây giềng được bện xoắn từ xơ tự nhiên, nhân tạo hoặc sợi thép (cáp thép). Phao, chì được chế tạo từ nhựa, chất xốp hóa học, gỗ, thép, gang, chì, đá 

        Từng ngư cụ trong quá trình làm việc sẽ có hình dạng nhất định tùy thuộc vào thông số hình học, động học của hệ thống và các thông số môi trường tác động lên hệ thống. Trong điều kiện chuyển động ổn định, hình dáng hệ thống ngư cụ là ổn định. Hệ thống ngư cụ được coi như hệ thống dây mềm. Tính mềm của hệ thống ngư cụ phải hiểu trên khía cạnh tổng thể. Một chi tiết riêng biệt của hệ thống có thể là cứng tuyệt đối theo ý nghĩa kỹ thuật, nhưng không làm ảnh hưởng đến tính mềm của hệ thống. 

        Tùy theo phương pháp và đối tượng khai thác, người ta phân chia ngư cụ thành các nhóm. Việc lựa chọn ngư cụ chủ yếu tùy thuộc vào mức độ tập trung và quy mô đàn cá, cũng như đặc tính trang bị tàu thuyền. Các loại ngư cụ được thiết kế dựa trên hiểu biết về tập tính sinh thái của cá trong điều kiện tự nhiên và phản ứng của chúng đối với yếu tố nhân tạo (ánh sáng, âm thanh, hóa chất). Hiện nay, ngư cụ được thiết kế thông qua tính toán lý thuyết, thử nghiệm mô hình trong nước hoặc trong ống khí động học và sử dụng trong thực tế. Hiệu quả (hay tính hoàn thiện) đựơc đánh giá bằng khả năng đánh bắt của ngư cụ, tức là tỉ số giữa lượng cá mà ngư cụ đánh được sau một chu trình hoạt động so với lượng cá có mặt trong vùng tác động của ngư cụ tại thời điểm khai thác. 

           1. Vật liệu ngư cụ 

     1. 1.  Vật liệu xơ dùng trong nghề cá 

           Người ta dùng nhiều loại vật liệu để chế tạo ngư cụ, nhưng vật liệu hàng đầu phải kể đến là xơ tự nhiên và xơ nhân tạo (xơ tổng hợp) để chế tạo sợi chỉ lưới đánh cá và các loại dây dùng trong nghề cá.

  1. 1. 2.  Xơ tự nhiên dùng trong nghề cá 

           Xơ tự nhiên tồn tại ở dạng có sẵn trong thiên nhiên. Trước đây trong nghề khai thác cá thường dùng các loại xơ thực vật lấy từ quả bông, vỏ cây đay, gaivà từ động vật như tơ tằm. 

    - Xơ bông:    

           Xơ bông lấy từ quả bông, đường kính xơ khoảng 0,01mm, chiều dài 1,5-5,0cm. Xơ bông có độ hút ẩm nhỏ hơn các loại xơ thực vật khác. Sau khi hút ẩm, xơ bông sẽ tăng đường kính lên 40-50% và chiều dài chỉ tăng 1-2%. Trong xơ bông có chất sáp ở nhiệt độ 800C sáp sẽ chảy. Chất sáp cản trở việc giữ màu khi nhuộm. Vì thế cần phải luộc kỹ sợi bông để tẩy sáp trước khi nhuộm màu. So với các loại xơ thực vật khác, xơ bông có lực đứt khá cao, độ mảnh nhỏ đồng đều, độ bền ma sát và tính chống mục nát cao. Tuy nhiên, do chiều dài của xơ bông ngắn, nên khi gia công chỉ lưới có độ xoắn lớn. 

    - Xơ đay: 

          Xơ đay thuộc loại xơ thực vật có chiều dài ngắn từ 8-40mm, đường kính 0,016-0,032mm. Lực đứt của xơ khá cao. Trong nghề cá, người ta thường dùng xơ đay để làm chỉ lưới, dây giềng hoặc dây giềng hỗn hợp cáp thép bọc đay. Trong xơ đay có chất gỗ (lignin) nên xơ có tính chất đàn hồi và dễ mục nát độ ẩm lớn.

    -  Xơ gai: 

          Loại xơ dùng phổ biến trong nghề cá Việt Nam trước đây. Chiều dài xơ từ 50-250mm, đường kính từ 0,016-0,08mm. Lực đứt của xơ gai khá lớn và tính hút ẩm nhỏ là ưu thế của loại xơ này so với các loại xơ thực vật khác. Trong xơ gai chất gỗ ít nên độ bền cao, dễ gia công. Tuy vậy, trong xơ cũng có chất sáp nên dễ bị phá hoại khi ẩm. 

    - Tơ tằm:

     Xơ dài từ 600-700m có khi tới 1.000m, đường kính từ 0,013-0,026mm. Tơ tằm có lực đứt khá cao, độ đàn hồi tốt, mặt ngoài nhẵn bóng nên trước đây người ta sử dụng nó làm lưới rê và một số ngư cụ khác. 

    1.1. 2.Xơ tổng hợp 

         Xơ tổng hợp còn được gọi là xơ nhân tạo, xơ hóa học hoặc xơ pô-li-me là sản phẩm của quá trình hóa học bằng cách trùng hợp các chất và hợp chất hóa học. Số lượng phân tử pô-li-me, liên kết theo dạng xích, có thể đạt tới hàng trăm hoặc hàng ngàn. Cấu trúc như thế của phân tử pô-li-me đã tạo nên xơ tổng hợp có tính chất rất đặc biệt. 

       - Các loại xơ tổng hợp thường dung trong nghề cá thuộc các nhóm như:

       + Poliamit, ký hiệu PA, gồm các loại kapron, nylon

       + Polieste, ký hiệu PES, có tên thường gọi là laptan, tertoron

       + Polivinin ancolon, ký hiệu PVA, có tên thường gọi là vinilon.

       + Polivinin clorit, ký hiệu PVC, có tên thường gọi là clorin, envilon

       + Polipropilen, ký hiệu PP, có tên thường gọi là polipropilen, pro -tex.

       + Poliethylen, ký hiệu PE, có tên thường gọi là polietilen, etylon

         Xơ tổng hợp nhẹ hơn xơ tự nhiên, các loại xơ tổng hợp được sử dụng trong nghề cá có trọng lượng riêng từ 950-1.150kg/m3, còn xơ tự nhiên có trọng lượng riêng từ 1.400-1.500kg/m3.

        Độ nặng, nhẹ của xơ dùng trong nghề cá có ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác cá của ngư cụ, đến độ chìm của lưới, đến quá trình lao động, sản xuất như thao tác nặng nề, gây cản trở trong chuyển động của ngư cụ. Với lưới nhuộm, tốc độ chìm nhanh hơn lưới chưa nhuộm. 

        Độ bền của xơ tổng hợp khi khô và khi ẩm cao hơn so với xơ tự nhiên từ 1,3-2,0 lần. Xơ tổng hợp không bị thối rữa khi bị ẩm do vi khuẩn phá hoại. Tuy nhiên, dưới ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, xơ tổng hợp lại bị giảm cường độ nhanh hơn so với xơ tự nhiên. Qua thực nghiệm, nếu chiếu trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời trong 150 ngày, độ bền của xơ poliamit giảm từ 15-25% trong khi đó sợi bông chỉ giảm 18%. Xơ poliethylen cũng có hiện tượng như vậy. Đây là nhược điểm cần chú ý đối với xơ tổng hợp. Trong sản xuất, khi sử dụng lưới bằng xơ tổng hợp, cần chú ý không để lưới phơi ánh nắng qua lâu, cần che nắng cho lưới khi không làm việc. 

        Độ hút ẩm của xơ tổng hợp thấp hơn so với xơ tự nhiên từ 1,5-2 lần, độ ngậm nước ít hơn, độ thoát nước nhanh hơn so với xơ tự nhiên. 

        Nhiệt độ nóng chảy của xơ tổng hợp từ 125-2500C. Trong nước sôi, xơ tổng hợp bị mềm và co ngắn, chú ý khi nhuộm cần phải thử mẫu để xác định nhiệt độ làm mềm vật liệu lưới nhuộm. 

        Xơ tổng hợp, nói chung không bị hóa chất thông thường phá hỏng. Tuy nhiên, một số hóa chất ở nhiệt độ cao có thể làm cho xơ tổng hợp bị hòa tan. Axit clohidric (HCl) ở nồng độ 37%, Axit sulfuaric (H2SO3) 97-98% có thể hòa tan được xơ poliamit, còn xơ polietilen không bị tác dụng. 

    1. 2. Sợi và chỉ dùng để chế tạo ngư cụ

           1. 2 .1.  Sợi         

          Sợi là sản phẩm trung gian giữa xơ và chỉ lưới. Sự khác biệt của công đoạn chế tạo từ nguyên liệu ra sợi dẫn đến sự phân biệt về sản phẩm sợi. Trong thực tê có các loại sợi như: 

    -  Sợi thô: 

         Là sản phẩm từ xơ chắp nối lại và xoắn ở mức độ nào đó. Sợi thô thường gọi là sợi nguyên. Từ vài sợi nguyên có thể xoắn lại với nhau tạo thành sợi con hoặc chỉ xe đơn. 

   -  Sợi đơn: 

         Là sợi dài vô hạn (chỉ có đối với sợi tổng hợp), không có vòng xoắn, trơn bóng (thường gọi là cước). Sợi đơn là thành phẩm đầu tiên từ nguyên liệu. Sợi đơn có thể dùng trực tiếp để đan (lưới rê), làm dây câu, hoặc bện tết một vài lần để tạo thành chỉ lưới, dây có độ thô khác nhau (chỉ lưới, dây giềng

          Sợi poliethylen thường được sản xuất dưới dạng sợi đơn (cước), có màu trắng, trắng xanh hoặc màu kem. 

     1. 2. 2. Chỉ lưới 

         Chỉ lưới là thành phẩm chế tạo từ sợi thô, sợi con hoặc sợi đơn và là đơn vị hoàn chỉnh để chế tạo lưới đánh cá. Chỉ thành phẩm xe từ sợi một lần, gọi là chỉ xe đơn. Nếu chỉ thành phẩm xe từ các chỉ xe đơn gọi là chỉ xe kép. 

         Dây lưới là một dạng của chỉ lưới. Quá trình sản xuất ra dây lưới được tiến hành bằng cách bện tết một số lần từ chỉ sợi thô, sợi con, sợi đơn, thậm chí từ chỉ lưới. Dây lưới to hơn nhiều lần chỉ lưới, có đường kính khác nhau tùy theo từng yêu cầu công việc. Trong nghề cá, dây lưới thường sử dụng với các chức năng khác nhau như dây giềng, dây kéo lưới, dây neo 

         Độ thô là một đặc trưng kỹ thuật của chỉ lưới. Độ thô (độ to, nhỏ) của chỉ lưới, có thể biểu diễn bằng đường kính, hoặc diện tích hoặc chu vi mặt cắt ngang của chỉ, dây lưới. Do cấu trúc của chỉ lưới khá đặc biệt, mặt ngoài của chỉ không đều nhau do tạo thành vòng xoắn, hơn nữa vật liệu chỉ lưới lại mềm, kích thước ngang nhỏ, vì vậy, gây khó khăn trong việc đo đạc chính xác độ thô của chỉ lưới. Để khắc phục khó khăn đó, có thể sử dụng các đại lượng gián tiếp, biễu diễn độ thô của chỉ lưới. 

         Nếu chỉ xe từ sợi thô hoặc sợi đơn, độ thô của chỉ lưới được quyết định bởi độ thô của sợi và số lượng sợi được xe thành chỉ. Người ta thường biểu thị theo độ thô của sợi và số sợi tạo thành chỉ. Các số liệu độ thô của chỉ lưới sử dụng trong kỹ thuật sau này có thể sử dụng chỉ số độ thô của sợi hay của chính chỉ lưới đó. Trong kỹ thuật người ta thường sử dụng các đại lượng đo độ thô của chỉ lưới như sau:   

     - Số chi của sợi:

            Số chi của sợi và của chỉ là chiều dài của một đơn vị khối lượng của mẫu sợi hoặc chỉ cần đo. Nói cách khác, số chi của mẫu sợi hoặc chỉ là chiều dài tính bằng mét của một gam sợi hoặc chỉ đó, được biểu diễn bằng công thức: 

N=L/G (1) 

          Trong đó:

            N - Số chi (m/g)

            L - Chiều dài mẫu đo (m)

            G - Khối lượng mẫu đo (g) 

          - Chỉ số Tex của sợi: 

           Là đơn vị đo độ thô của sợi và của chỉ. Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-76) quy định cách biểu thị độ thô của xơ bán thành phẩm, sợi, chỉ theo hệ Tex, ký hiệu là T hay Tex. 

           Số Tex là đơn vị cơ bản của hệ thống Tex. Một Tex là độ thô của sợi, chỉ hoặc xơ bán thành phẩm có chiều dài 1km và có khối lượng 1gam. Độ thô của sợi theo hệ thống Tex được tính bằng công thức: 

T = G/L.1000 (2)

            Trong đó:

               T - Độ thô đo bằng Tex (g/m)

               G - Khối lượng mẫu (g)

               L - Chiều dài mẫu (m)

 

           Đơn vị lớn hơn và nhỏ hơn của Tex là kilotex (Ktex) và militex (Mtex).

               1 tex = 1.000 Mtex

               1 tex = 1/1.000. Ktex      

          - Chỉ số Đơ-ni-ê của sợi: 

          Một Đơ-ni-ê được biểu thị độ mảnh của sợi, chỉ có chiều dài là 9.000m và có khối lượng là 1gam, được ký hiệu là D. Số Đơ-ni-ê được biểu thị bằng công thức: 

D = G/L.9000 (3)

          Trong đó:

            D - Số Đơ-ni-ê  (g/m)

            G - Khối lượng mẫu sợi (g)

            L - Chiều dài mẫu (m) 

          Công thức (2) và (3) cho biết khi số Tex hoặc số Đơ-ni-ê càng lớn, độ thô của sợi chỉ càng lớn. 

    2.  Nút lưới 

          Nút lưới là hình thức liên kết các sợi, chỉ lưới để tạo thành mắt lưới. Tùy phương pháp đan và loại vật liệu sợi mà sử dụng các loại nút lưới khác nhau. Các loại nút đơn (nút dẹt đơn, nút chân ếch đơn…) dùng cho sợi thực vật (bông, gai) đan tay và sợi tổng hợp đan máy (trường hợp đan máy phải xử lý nhiệt vì dễ tuột), các loại nút lưới kép (nút dẹt kép, nút chân ếch kép, nút dẹt biến dạng, nút chân ếch biến dạng) dùng cho sợi tổng hợp đan tay. Các loại nút lưới kép chắc hơn, nhưng tốn chỉ và công đan hơn nút lưới đơn. Ngoài ra, còn loại lưới dệt (lưới không nút) do máy dệt tự đan chéo các sợi chỉ lưới với nhau tạo thành, có ưu điểm tốn ít chỉ hơn nhưng khó vá khi rách. 

       Mắt lưới được đan hoặc dệt bằng các loại nút như nút dẹt, nút chân ếch đơn, nút chân ếch kép, hoặc bện tết để tạo thành lưới tấm hoặc ngư cụ. Có một số loại nút chính như hình 1. 

 

          Nút dẹt có kết cấu đơn giản, dễ thao tác, song dễ biến dạng mắt lưới khi lực tác dụng không đều theo các phương. Với lưới làm bằng sợi tổng hợp, ít dùng nút dẹt. 

         Nút chân ếch đơn đựơc sử dụng rộng rãi hơn. Độ bền vững của nút chân ếch khi lực kéo theo mọi phương như nhau. 

          Nút chân ếch kép, tuy có độ bền lớn hơn các loại nút khác, nhưng vì có nhiều nhược điểm, nên chỉ được sử dụng trong một vài vị trí đặc biệt của ngư cụ. 

         3. Lưới tấm 

         3. 1. Đặc điểm của lưới tấm 

          Lưới tấm được chế tạo từ chỉ lưới và sử dụng để tạo ra các dạng lưới khác nhau. Chỉ lưới được đan hoặc bện tết thành mắt lưới. Mắt lưới là yếu tố cơ bản hình thành tấm lưới. Thông số cơ bản của mắt lưới là kích thước cạnh mắt lưới, được ký hiệu bằng chữ “a”, được đo trên hai nút lưới liên tiếp khi kéo căng và được tính bằng milimet (mm). 

          Nếu kéo căng tấm lưới theo chiều dọc hoặc chiều ngang của mắt lưới, ta được chiều dài kéo căng của tấm lưới theo chiều dọc và theo chiều ngang. 

          Tấm lưới hình thành bằng cách đan tay hoặc đan máy. Có hai dạng lưới là lưới có nút và lưới không nút. Hiện nay, ngoài lưới tấm có mắt lưới hình thoi, người ta còn sử dụng trong nghề cá lưới tấm có mắt lưới sáu cạnh, mắt lưới hình vuông. 

          Trong lý thuyết và thiết kế ngư cụ, tỷ số giữa đường kính chỉ lưới và kích thước cạnh mắt lưới d/a là thông số chỉ độ dày của tấm lưới và nó ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác của ngư cụ. Đối với loại lưới đóng (lưới rê), để nâng cao hiệu quả khai thác, thường dùng lưới có tỷ số d/a nhỏ, còn các ngư cụ như lưới kéo, lưới vây thường dùng tỷ số này lớn hơn. 

    3. 2.  Lưới đan (lưới đan bằng tay) 

          Lưới đan là việc dùng ghim đan, cữ đan để liên kết chỉ lưới thành các mắt lưới bằng các loại nút lưới khác nhau tạo thành tấm lưới. Tùy theo yêu cầu chế tạo của từng loại ngư cụ và hình thức đan có thể tạo ra tấm lưới đan có hình dạng khác nhau như: đan bình thường (tạo ra tấm lưới hình chữ nhật hoặc hình vuông), đan tăng giảm mắt lưới (tạo ra tấm lưới tam giác hoặc hình thang), đan biên theo chu kỳ cắt (ví dụ đan biên cánh phao, cánh chì của lưới kéo). Ở Việt Nam lưới đan được sử dụng cho khá nhiều nghề khai thác thủy sản, gồm có: lưới đan không tăng giảm mắt lưới và lưới đan tăng giảm mắt lưới. 

   3. 3.  Lưới dệt (lưới dệt bằng máy) 

         Lưới dệt có 2 loại: lưới dệt có nút và lưới dệt không nút. 

         Lưới dệt có nút thường sử dụng để lắp ráp thành các loại lưới khác nhau. Lưới dệt không nút được sử dụng trong nghề xâm (khai thác moi), lưới rùng, lưới vây, lồng nuôi cá. Lưới dệt trước khi sử dụng phải được xử lý nhiệt để các nút lưới không bị tuột. 

    4. Đan lưới 

         Đan lưới là quá trình chế tạo lưới tấm hoặc ngư cụ hoàn chỉnh từ chỉ lưới. Việc đan lưới tấm trên máy được thực hiện theo những quy trình đặc biệt, được trình bày trong những giáo trình riêng. Ở đây chỉ trình bày những đặc điểm của quá trình đan lưới bằng tay. Trong đan lưới, để tạo thành các mắt lưới có kích thước như nhau, người ta sử dụng một vật chuẩn gọi là cữ đan. Cữ đan có thể làm bằng tre, gỗ, nhôm 

         Để đan tấm lưới có hình dạng khác nhau, người ta tiến hành các hình thức đan khác nhau, có hai hình thức đan: 

         Đan không tăng giảm mắt: là quá trình đan với số mắt lưới theo hàng ngang không thay đổi, tấm lưới đan có dạng hình chữ nhật. 

          Đan tăng giảm mắt: là quá trình đan tấm lưới có số mắt lưới theo chiều ngang thay đổi. Tấm lưới đan thường có dạng hình thang, hình tam giác 

          Trong đan lưới thủ công, một số địa phương gọi đường tăng giảm mắt lưới là “đường con nhốt” hoặc “đường con tỉa”. Đan tấm lưới hoặc một chiếc lưới hoàn chỉnh, người ta có thể thực hiện đan dọc theo chiều cao của tấm lưới một hay nhiều đường đan theo chu kỳ tăng hoặc giảm, các đường đan này thường được thực hiện ở hai mép của tấm lưới hoặc phần bên trong của tấm lưới. Số lượng đường tăng giảm tùy thuộc vào cấu trúc và hình dáng của lưới. 

          Đan tăng giảm mắt lưới được thực hiện theo các đường tăng giảm. Mỗi mắt lưới tăng giảm được lặp lại trên một số cữ đan (cạnh mắt lưới). Sự tăng giảm mắt lưới được lặp lại sau số cữ đan nhất định gọi là đan lưới theo chu kỳ. 

    5- Cắt lưới và ghép lưới 

    5. 1.  Cắt lưới 

         Cắt lưới là một công đoạn quan trọng để chế tạo ngư cụ từ lưới tấm. Để cắt tấm lưới theo yêu cầu, cần phải tiến hành các hình thức cắt khác nhau. Có hai dạng cắt lưới cơ bản: cắt lưới đơn giản và cắt lưới phối hợp. 

         Cắt đơn giản: là cắt thẳng hoàn toàn và cắt xiên hoàn toàn. 

         Cắt thẳng hoàn toàn có thể cắt theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Cắt thẳng được tiến hành cắt đứt toàn bộ hai cạnh của các mắt lưới liên tiếp theo hàng dọc hoặc theo hàng ngang (hình 2a và hình 2b). 

         Cắt xiên hoàn toàn là cắt tất cả các cạnh mắt lưới đối diện nhau tạo thành đường xiên (hình 2c) 

 

       Cắt phối hợp: cắt phối hợp chia thành các hình thức sau:

       Cắt phối hợp giữa cắt xiên và cắt thẳng ngang (hình 3a)

       Cắt phối hợp giữa cắt xiên và cắt thẳng đứng (hình 3b)

 

       Để lựa chọn hình thức cắt phù hợp, cần thiết phải biết số mắt lưới thẳng đứng và thẳng ngang, là cạnh của tam giác vuông có cạnh huyền là đường phải cắt (hình 4).

 

 

 

        Gọi số mắt lưới thẳng đứng của cạnh tam giác vuông kề đường cắt là m và số mắt lưới nằm ngang của cạnh kề đường cắt còn lại là n.

        Nếu m>n thực hiện cắt phối hợp giữa cắt xiên với cắt thẳng đứng.

        Nếu m<n thực hiện cắt phối hợp giữa cắt xiên với cắt thẳng ngang.

        Đặc biệt khi m=n thực hiện cắt xiên hoàn toàn.

        Theo ký hiệu quốc tế, cắt xiên cạnh mắt lưới được ký hiệu B; cắt ngang mắt lưới được ký hiệu bằng chữ T; cắt đứng mắt lưới được ký hiệu bằng chữ N.

        Ví dụ:

        Cắt tấm lưới theo chu kỳ 1N2B; 1T2B; 1B2T là những phép cắt được biểu diễn trên hình 5.

 

5. 2. Ghép lưới

 

       Ghép lưới là công đoạn dùng ghim đan ghép các tấm lưới với nhau. Có ba hình thức: ghép tạm thời; ghép bán cố định và ghép cố định.

 

5. 2. 1.  Ghép tạm thời

       Khi mối ghép đòi hỏi dễ tháo lắp, nghĩa là mở nhanh và lắp nhanh, cần phải thực hiện mối ghép tạm thời. Mối ghép này thường để ghép các cheo lưới của vàng lưới rê. Trong ghép tạm thời, người ta sử dụng các nút dễ tháo và đường ghép thường sử dụng phương pháp sươn ghép.

 

5. 2. 2.  Ghép bán cố định

 

       Ghép bán cố định là mối ghép khi cần dễ tháo gỡ, đường ghép ít bị tổn thất. Loại ghép này thường là ghép mối ngắn.

    5. 2. 3.  Ghép cố định

 

          Là mối ghép được thực hiện bằng cách đan thêm 1/2 mắt lưới nối liền 2 tấm lưới cần ghép.

          Tỷ số lắp ghép là tỷ số giữa số mắt lưới hay chiều dài kéo căng của tấm lưới này so với tấm lưới kia, có 2 hình thức ghép lưới.

 

          Số lượng mắt lưới của hai tấm lưới ghép như nhau:

          Ghép 2 tấm lưới lại với nhau bằng cách đan thêm 1/2 mắt lưới. Cứ 1 mắt của tấm lưới này ghép với 1 mắt lưới của tấm kia.

          Số lượng mắt lưới của hai tấm lưới cần ghép khác nhau:

          Nếu hai tấm lưới cần ghép có số mắt lưới hoặc chiều dài kéo căng khác nhau, người ta có thể ghép a mắt lưới của tấm lưới này với b mắt lưới của tấm lưới kia hoặc L1 chiều dài kéo căng của tấm lưới này với L2 chiều dài kéo căng của tấm lưới kia. 

   6. Ván lưới 

        Ván lưới là bộ phận tạo lực mở ngang trong quá trình kéo lưới để mở miệng lưới kéo đơn (lưới kéo một tàu). Ván lưới có dạng là hình chữ nhật, bầu dục, đĩa, hình chữ V và thường được chế tạo bằng gỗ, gỗ nẹp sắt hoặc bằng sắt hoặc các hợp kim khác. Ván lưới được liên kết với đầu cánh lưới và được tàu kéo đi bằng dây cáp kéo. Khi chuyển động trong nước, do có góc nghiêng nhất định so với phương chuyển động, áp lực của nước lên ván lưới đựơc phân thành hai phần: lực cản và lực mở ngang. Để giảm bớt lực cản của ván lưới, người ta thường làm các khe hở ở giữa ván, hoặc là sử dụng loại ván lưới hình đĩa. Để cho ván lưới luôn làm việc ổn định người ta sử dụng hệ thống gọng ván và cách liên kết đặc biệt với đầu cánh lưới. Kích thước ván lưới được lựa chọn phù hợp với cỡ loại tàu thuyền, ngư cụ và độ sâu lưới kéo làm việc. Ván lưới có vị trí quan trọng đặc biệt trong nghề lưới kéo đơn (một tàu kéo một lưới). Ván lưới đã được chú trọng nghiên cứu từ rất sớm, trải qua nửa thế kỷ nghiên cứu thực nghiệm và cải tiến, ngày nay ván lưới là bộ phận hoàn thiện nhất trong các bộ phận của lưới kéo. Các loại vật liệu nhẹ và siêu bền đã đựơc áp dụng. Các hình dạng thủy động học tối ưu được nghiên cứu và áp dụng cho ván lưới. Những ván lưới của các tàu lưới kéo đơn khổng lồ của Tây Âu, Nhật Bản, Bắc Mỹ để khai thác tôm ở tầng nước sâu và lạnh gần Bắc cực có các đặc tính thủy động rất cao (nhẹ, ổn định, độ bền cao, lực mở lớn, lực cản nhỏ) và dễ thao tác đã được các nước Đan Mạch, Nauy, Nhật Bảnsử dụng rộng rãi. Hiện nay nghề lưới kéo Việt Nam thường dùng cỡ ván lưới: 1,0 x 0,5m-1,5 x 0,75m (loại nhỏ); 20 x 1,0m (loại trung bình); 3,0 x 1,5m hoặc lớn hơn. 

    7. Phao 

          Phao dùng cho nghề cá là trang bị ngư cụ để tạo lực nổi. Phao thường được làm bằng tre, nhựa tổng hợp, xốp hóa học, thủy tinh, kim loại, Có nhiều loại phao, nếu gọi theo tên gọi của ngư cụ có phao lưới rê, phao lưới vây, phao lưới kéo, theo tính chất lực nổi có phao thủy tỉnh, phao thủy động,,theo vật liệu làm phao có phao thủy tinh, phao nhựa, phao gỗPhao có nhiều hình dạng khác nhau và thường có lỗ hoặc tai để buộc vào ngư cụ. 

    8. Chì 

          Chì dùng cho nghề cá là vật nặng lắp vào giềng chì của lưới để tạo lực chìm, chì thường làm bằng đá, gang, thép, chì (Pb), gỗTùy thuộc vào nguyên lý hoạt động của từng loại ngư cụ mà sử dụng vật liệu, kích thước, hình dạng chì khác nhau. 

    9. Lưỡi câu 

            Lưỡi câu là bộ phận chủ yếu của ngư cụ dùng trong họ nghề câu, với sự đa dạng về kích thước và hình dạng. Lưỡi câu thường được làm bằng thép mạ kẽm (để chống gỉ), đồng thau hoặc thép không gỉ. Có nhiều loại lưỡi câu, hình dạng và kích thước của lưỡi câu phụ thuộc vào đối tượng đánh bắt. Phân loại lưỡi câu theo hình dạng có lưỡi câu hình tròn và hình góc cạnh; phân loại lưỡi câu theo số lượng lưỡi (có lưỡi câu 1 lưỡi hay lưỡi câu nhiều lưỡi); phân loại lưỡi câu theo đối tượng đánh bắt (có lưỡi câu mực và lưỡi câu cá). 

    10.  Dây giềng 

           Dây giềng là loại dây dùng để định hình lưới và chịu lực trong quá trình thao tác lưới. Dây giềng được xe, bện tết từ các loại vật liệu xơ sợi thực vật, tổng hợp hoặc các loại dây cáp thép. Độ thô dây giềng lớn hơn độ thô chỉ lưới, đường kính dây giềng thường bằng 3mm đến 30mm hoặc lớn hơn. Có nhiều loại dây giềng, dựa vào vật liệu chế tạo có dây đay, gai, malina, xơ dừa, nilon, kapron, PE, PP, dây cáp thép, theo kết cấu của dây giềng xe xoắn hoặc bện tết. Đối với ngư cụ thường có các loại dây giềng sau: giềng phao, giềng chì, giềng biên, giềng lực… 

     11. Thí nghiệm mô hình ngư cụ             

          Trong thực tế, lưới thường làm việc ở ngư trường có độ sâu lớn và chuyển động với tốc độ rất nhanh nên rất khó khăn để quan sát và đo đạc các thông số của lưới. Vì vậy, người ta phải sử dụng phương pháp thí nghiệm mô hình ngư cụ. Mô hình được dùng trong thí nghiệm có kích thước nhỏ hơn vật thật nhiều lần. Mô hình sẽ được kéo chuyển động trong bể nước thí nghiệm (hoặc mô hình tĩnh còn nước chuyển động).. Nhờ các thiết bị đặc biệt người ta có thể đo được các lực tác động lên mô hình sau đó nhờ các phương pháp tính toán đặc biệt người ta có thể quy đổi để biết các lực thực tế tác dụng lên vật thật. 

         Thí nghiệm mô hình ngư cụ là việc nghiên cứu theo phương pháp mô hình thủy động lực. 

         Thí nghiệm mô hình nhằm xác lập những đặc trưng kỹ thuật, hình ảnh tổng thể trong quan hệ chung của môi trường và ngư cụ, đồng thời cho phép nhận xét về định tính và định lượng của một bộ phận hoặc tổng thể ngư cụ theo những số liệu và hình ảnh thực nghiệm. 

         Tính ưu việt của thí nghiệm mô hình ngư cụ thể hiện ở chỗ, nó không chỉ đo được các thông số kỹ thuật của ngư cụ mà có thể quan sát trực tiếp và ghi nhận hình ảnh theo hình dáng mô hình ngư cụ, hoặc bộ phận của ngư cụ. Qua đây, có thể tìm khiếm khuyết trong thiết kế, thi công về cấu trúc ngư cụ và hiệu quả kỹ thuật thông qua những lần nghiên cứu hoặc hiệu chỉnh, cải tiến và hoàn thiện ngư cụ. Đối với các mô hình lớn có thể dùng để nghiên cứu tập tính của cá trong vùng tác dụng của ngư cụ. Việc thay thế nghiên cứu tự nhiên trong giai đoạn nghiên cứu cơ bản bằng nghiên cứu mô hình có ý nghĩa kinh tế rõ rệt. Nhờ đó cho phép rút ngắn thời gian và giá thành nghiên cứu. 

        Tính đặc biệt của thí nghiệm mô hình ngư cụ        

        Tính đặc biệt của thí nghiệm mô hình ngư cụ được quy định bởi đặc tính của chuyển động ngư cụ trong môi trường và tương tác của đối tượng khai thác. Hệ thống ngư cụ được coi như hệ thống mềm tuyệt đối, vì vậy, hệ thống này luôn biến hình khi bị tác động bởi các yếu tố địa hình đáy biển, khí tượng hải dương. Nghiên cứu mối quan hệ giữa hình dạng của ngư cụ với tác động của môi trường thông qua hệ thống ngoại lực tác dụng lên ngư cụ, nói chung, chưa có lời giải tổng quát. Trong những trường hợp đơn giản, bài toán về mối quan hệ giữa hình dáng ngư cụ với ngoại lực tác dụng có thể giải bằng phương pháp giải tích hoặc tương tự cơ học. Trong nghiên cứu ngư cụ, người ta quan tâm nhiều đến bản chất chuyển động của ngư cụ. Hướng quan tâm về vấn đề này là lực thủy động của hệ thống hoặc của bộ phận ngư cụ, đặc biệt là áo lưới. Lực thủy động có ý nghĩa quyết định đến hình dáng, độ bền của ngư cụ và cuối cùng là năng suất đánh bắt, hiệu quả kinh tế của công trình. Mối quan hệ giữa lực thủy động với cấu trúc ngư cụ và tác động môi trường rất phức tạp. Nói chung, bài toán tổng quát của mối quan hệ trên không có lời giải chính xác. Thông thường, để thiết lập mối quan hệ giữa lực thủy động của ngư cụ với hệ thống, bộ phận, chi tiết ngư cụ và tác động môi trường lên ngư cụ, người ta giới hạn một số tham số cấu trúc ngư cụ và tác động môi trường lên ngư cụ. Bằng thực nghiệm, có thể xác định mối quan hệ trên với hệ số thực nghiệm đặc trưng. Như vậy, với mỗi trường hợp cụ thể, có thể xây dựng quan hệ thực nghiệm riêng. Trong các công thức thực nghiệm, ngoài những tham số đã biết, còn lại những nhân tố ảnh hưởng khác chưa biết đều thể hiện qua hệ thống thực nghiệm. Khi thiết kế ngư cụ, các tính toán cơ bản, từng trường hợp riêng đều sử dụng những quan hệ thực nghiệm riêng.

         Một đặc điểm của nghiên cứu ngư cụ, được phân biệt với các công trình dân dụng khác là toàn bộ hệ thống ngư cụ được hoàn thiện để khai thác có hiệu quả và kinh tế một hoặc vài đối tượng. Đối tượng khai thác là cơ thể sống có tập tính sinh lý riêng biệt. Muốn khai thác có hiệu quả, cần phải nắm vững quy luật sinh học của đối tượng khai thác. Tính phức tạp của mối quan hệ trên, trong thực tế nghiên cứu và thiết kế ngư cụ, rất nhiều trường hợp phải tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm trong điều kiện tự nhiên, trong môi trường sống của đối tượng khai thác. Đặc điểm này của nghề cá làm cho quy mô nghiên cứu lớn, giá thành nghiên cứu cao.

Nguyễn Văn Kháng

Nguồn: Bách khoa thủy sản

Hội Nghề cá Việt Nam

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang