Số lượt truy cập:   574131
New Page 9

NGUỒN LỢI HẢI SẢN VÀ NGƯ TRƯỜNG

 

         Nguồn lợi hải sản

       Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, những công trình nghiên cứu có tầm vóc đã được tiến hành ở vùng biển Việt Nam, đánh dấu một giai đoạn chuyển dần từ dự báo theo kinh nghiệm sang giai đoạn dự báo bằng những phương pháp khoa học. Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ cá ở Đông Dương đã được Pellegrin (1905) và Chabanaud (1926) công bố, trong đó chủ yếu ở Trung bộ, Nam bộ Việt Nam, vịnh Thái Lan. Gruvel (1925) đã mô tả một số loài cá ở vịnh Bắc bộ. Những năm 1925 - 1929, tàu nghiên cứu De Lanesaan được trang bị lưới kéo đáy đã thực hiện nhiều chuyến nghiên cứu về nguồn lợi thủy sản ở vùng biển Việt Nam. 

         Năm 1927, Nhật Bản đã đưa tàu lưới kéo đáy HAKUHO MARU đánh cá thực nghiệm ở vịnh Bắc bộ. Năm 1935 - 1936, Đài Loan đã đưa tàu nghiên cứu nghề cá SHONAN nghiên cứu ở phía bắc biển Việt Nam. Các hoạt động nghiên cứu đã đưa lại kết quả là đến trước thời kỳ Đại chiến thế giới II, nhiều tàu của ngoại quốc đến biển Việt Nam đánh cá và Nha Trang trở thành căn cứ hậu cần cho nghề cá. 

        Ở vịnh Thái Lan cho đến cuối những năm 50 hầu như chưa có hoạt động nghiên cứu nào về nguồn lợi cá đáy. Từ năm 1960 được sự giúp đở của Cộng hòa Liên bang Đức đã sử dụng tàu lưới kéo đáy để nghiên cứu nguồn lợi cá đáy và đã thu được nhiều kết quả, từ đó nghề lưới kéo đáy phát triển mạnh mẽ ở đây, dẫn đến sau một thời gian ngắn nguồn lợi đã bị suy giảm nghiêm trọng. 

        Năm 1959 - 1961, Việt Nam đã hợp tác với Trung Quốc sử dụng tàu nghiên cứu Hải Điều trang bị lưới kéo đáy nghiên cứu về hải dương và nghề cá ở vịnh Bắc bộ. Các tài liệu thu đựơc tạo điều kiện để hiểu được tình hình và đặc điểm chung của nguồn lợi cá tầng đáy vịnh Bắc bộ. 

        Trong thời gian đó, Việt Nam và Liên Xô trước đây hợp tác nghiên cứu về nguồn lợi cá ở vịnh Bắc bộ và các vùng biển lân cận. 

        Với sự tài trợ của UNDP/FAO, chương trình nghiên cứu ngư nghiệp miền duyên hải đã được thực hiện vào năm 1961 - 1971, chương trình đã sử dụng tàu KYOSHIN MARU N0-52 trang bị lưới kéo tầng đáy và tầng giữa, tàu Hữu Nghị nghiên cứu vùng biển Việt Nam (trừ vịnh Bắc bộ) bằng nghề câu vàng. 

          Sau khi thống nhất đất nước, Viện Nghiên cứu Hải sản đã sử dụng tàu “Biển Đông” để hoạt động nghiên cứu nguồn lợi cá vùng biển gần bờ Việt Nam trong 3 năm. Những kết quả thu được đã cung cấp hiểu biết cơ bản về nguồn lợi cá ở vùng biển ven bờ Việt Nam. 

          Trữ lượng và khả năng khai thác cá biển Việt Nam theo đề tài: “Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam” năm 2003 như bảng 1.  

Bảng 1. Trữ lượng và khả năng khai thác

Vùng biển

Nhóm sinh thái

Độ sâu

(m)

Trữ lượng

(tấn)

Khả năng

khai thác (tấn)

Vịnh Bắc bộ

Cá nổi nhỏ

<30

119.800

59.900

 

 

>30

270.200

135.100

 

Cá đáy

<30

54.601

21.840

 

 

>30

98.129

39.252

 

Tổng số

 

542.730

256.092

Miền Trung

Cá nổi nhỏ

<50

200.000

100.000

 

 

>50

300.000

150.000

 

Cá đáy

<50

18.494

7.398

 

 

>50

104.000

41.600

 

Tổng số

 

622.494

298.998

Đông Nam bộ

Cá nổi nhỏ

<30

99.687

49.844

 

 

>30

424.313

212.157

 

Cá đáy

<30

49.087

19.635

 

 

>30

335.792

134.317

 

Tổng số

 

908.879

415.952

Tây Nam bộ

Cá nổi nhỏ

<30

112.439

56.219

 

 

>30

203.561

101.781

 

Cá đáy

<30

40.583

16.233

 

 

>40

122.106

48.842

 

Tổng số

 

478.689

223.075

Vùng gò nổi

Cá nổi nhỏ

 

10.000

2.500

Vùng giữa Biển

Đông

Cá nổi đại dương

 

510.000

230.000

Tổng cộng

Cá nổi nhỏ

 

1.740.000

867.500

 

Cá đáy

 

822.792

329.117

 

Cá nổi đại dương

 

510.000

230.000

Tổng toàn bộ

 

 

3.072.792

1.426.617

 

        Các ngư trường và bãi cá khai thác ở vùng biển Việt Nam 

       Ngư trường khai thác là nơi có các quần thể cá (hay hải sản khác) tập trung tương đối ổn định, việc tiến hành khai thác tại đây luôn đạt sản lượng cao. Sự xuất hiện các quần thể cá tại ngư trường thường mang tính mùa vụ, với chu kỳ dài ngắn khác nhau tùy thuộc các yếu tố sinh thái tự nhiên. Các ngư trường thường đựơc gọi tên theo địa danh gần chúng nhất, thường là tên các đảo hoặc cửa sông. 

       Bãi cá khai thác là vùng nước có những điều kiện sinh thái thích hợp, là nơi hội tụ đàn cá để sinh đẻ hay để kiếm mồi. Tùy theo quần thể cá, các bãi cá được chia thành bãi cá đáy hoặc bãi cá nổi. Mỗi ngư trường thường gồm nhiều bãi cá. Trong thực tế đôi khi khái niệm bãi cá được dùng chỉ ngư trường. 

       Dựa vào đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình, vùng biển Việt Nam được chia làm 4 ngư trường khai thác chính: ngư trường vịnh Bắc bộ, ngư trường miền Trung, ngư trường Đông Nam bộ và ngư trường Tây Nam bộ. Chế độ gió mùa đã tạo nên sự thay đổi cơ bản điều kiện hải dương sinh học, làm cho sự phân bố cá mang tính chất mùa vụ rõ ràng. 

       Vùng biển vịnh Bắc bộ, thời kỳ gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, cá tập trung ở vùng nước sâu giữa vịnh. Thời kỳ gió mùa tây nam từ tháng 4 đến tháng 7, cá di cư vào vùng nước nông ven bờ để đẻ trứng. Thời kỳ này các loài cá nổi tập trung nhiều nhất ở vùng gần bờ, sau đó giảm đi. Sản lượng cá đáy ở vùng gần bờ cao nhất từ tháng 9 đến tháng 11. 

      Vùng biển miền Trung, từ Đà Nẵng đến Mũi Dinh có đặc điểm là địa hình đáy dốc. Khu vực nước nông dưới 50m rất hẹp, lưu lượng nước sông ít nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước ngoài khơi. Vì vậy, sự phân bố thể hiện tính chất mùa vụ rõ rệt hơn, vùng gần bờ, cá thường tập trung từ tháng 3 đến tháng 9, chủ yếu là các loài cá nổi di cư vào bờ đẻ trứng. Trong thành phần loài của chúng có các loài cá đại dương như cá thu, cá ngừ, cá chuồn…, sự phân bố của cá đáy ở đây không thay đổi nhiều theo mùa. Vùng nước nông ven bờ từ Quy Nhơn đến Nha Trang có mật độ cá đáy tập trung tương đối cao. 

      Vùng biển Đông Nam bộ và Tây Nam bộ, từ 11030,N trở xuống, nơi bờ biển chuyển hướng bắc nam sang đông nam. Thời kỳ gió mùa đông bắc, cá nổi tập trung ở vùng gần bờ nhiều hơn thời kỳ gió mùa tây nam. Các khu vực tập trung chính ở Vũng Tàu - Phan Thiết, quần đảo Côn Sơn. Thời kỳ gió mùa tây nam, cá phân tán, mật độ cá trong toàn vùng giảm, không có những khu vực tập trung lớn và có xu hướng ra xa bờ. Các khu vực đẻ trứng gần bờ, số lượng đàn cá tăng lên, có nhiều đàn lớn, có lúc di chuyển nổi lên tầng mặt. Sản lượng cá đáy vùng gần bờ phía Tây Nam bộ nhìn chung cao hơn vùng biển phía Đông Nam bộ. Bờ phía đông, sản lượng khai thác vào thời kỳ gió mùa đông bắc cao hơn thời kỳ gió mùa tây nam, còn ở bờ phía tây thì ngược lại. 

       Dựa vào mối tương quan giữa cá và nguồn thức ăn trong biển, từ việc xác định khối lượng động vật phù du (thức ăn của cá nổi) và động vật đáy (thức ăn của cá đáy), có thể xác định được ngư trường khai thác thuộc chủ quyền vùng biển Việt Nam. Theo phương pháp nghiên cứu này, vùng biển Việt Nam được chia ra thành các ngư trường sau: ngư trường gần bờ, ngư trường thềm lục địa và ngư trường ngoài thềm lục địa Việt Nam. Theo sự phân chia này, tổng diện tích vùng biển gần bờ của Việt Nam là 98.100km2; thềm lục địa Việt Nam khoảng 326.200km2 và vùng biển ngoài thềm lục địa Việt Nam là 377.000km2.

       Sau đây là một số ngư trường (bãi cá) trọng điểm của nghề khai thác xa bờ. 

        Ngư trường nghề lưới kéo đơn: 

       -  Vùng giữa vịnh Bắc bộ (từ Nam Định đến Nghệ An), ở vào khoảng 19000, - 20000,N và 106030,-107030,E, chủ yếu ở độ sâu 30-50m.  

       - Ngư trường Hòn Mê - Mát đến Cồn Cỏ: Từ 17030, -18050,N và 107030,N trở vào, chủ yếu ở độ sâu 30-50m và cả dải độ sâu dưới 30m.

       -  Ngư trường Bạch Long Vĩ và nam Bạch Long Vĩ nằm trong dải độ sâu 30-50m, từ 19050, -20050,N và 107030,-108030,E.

 

       -  Ngư trường ven theo dải độ sâu 30-50m, chạy từ Thái Bình đến Nghệ An và lấn sâu cả vào đường đẳng sâu dưới 30m (nhất là khu vực giữa của Ba Lạt).

       -  Ngư trường đông bắc đảo Phú Quý có phạm vi hẹp, nằm trong dải độ sâu 50-100m. 

       - Có hai ngư trường nhỏ phía đông nam đảo Côn Đảo: một ở dải độ sâu 30-50m (8015,-8040,N; 107015,-107030,E) và một ở dải độ sâu 100-200m (6050,-7015,N; 108045,-109010,E). 

       -  Ngư trường khơi nam - đông nam Côn Sơn ở dải độ sâu 70-200m, từ 4030,-6015,N; 107040,-110000,E. Đây là ngư trường cá bò của nghề lưới kéo đơn. 

       -  Ngư trường tây - tây nam đảo Hòn Khoai (7050,-8050,N; 103030,-104030,E) trong dải độ sâu 30-50m và kéo vào tận độ sâu 20m nước. 

       Ngư trường nghề lưới kéo đôi:

       Vào vụ Nam các tàu lưới kéo đôi có công suất 300-600CV hoạt động ở ngư trường nam Nghệ An đến bắc Quảng Bình (17050, -18050,N), nằm trong dải độ sâu 30-50m, ngư trường lấn sâu vào cả phía trong đường đẳng sâu 30m và phía ngoài ra tới kinh độ 106030,E. 

       Vùng đông nam Côn Sơn từ 8000,-9030,N; 107015,-107045,E là ngư trường hoạt động của tàu trên 600CV. Vùng biển Đông Nam bộ là ngư trường rộng lớn, nhưng các tàu hoạt động chủ yếu ở vùng biển Phan Thiết - Vũng Tàu và tại các vùng đông bắc, tây - tây nam, nam và đông nam Côn Sơn.  

       -  Ngư trường đông bắc đảo Phú Quý đến 11000,N: là ngư trường nhỏ ở dải độ sâu 30 -50m nước, tập trung nhiều ở 108030,-109000,E.  

       -  Ngư trường Côn Sơn nằm giữa 7050,-9030,N và 106000,-107000,E, có độ sâu >30m. 

       - Ngư trường khơi phía nam đảo Côn Sơn: 7000,-7030,N; 106000,-107000,E, ở dải độ sâu 30-50m, là ngư trường quan trọng của nghề cá xa bờ vùng biển Đông Nam bộ.  

      Ngư trường lưới vây: 

       - Ngư trường của vịnh Bắc bộ: từ 16030,-18030,N, từ dải độ sâu 30m trở ra kinh tuyến 108030,E, độ sâu 30-100m, nhưng chủ yếu ở mức 50-100m nước.  

       - Vùng khơi biển Nghệ An: có độ sâu từ 30m đến lớn hơn 50m, ngang 18030,N (từ 106030,-107000,E). 

       - Ngư trường Quảng Bình - Quảng Trị: từ 170-17030,N, dọc theo kinh tuyến 107030,E, ở dải độ sâu trên dưới 30m nước. 

       -  Ngư trường Quảng Ngãi có trung tâm tại 15045,N và 109015,E. 

       -  Ngư trường Phan Thiết - Vũng Tàu, nằm theo dải độ sâu 30-100m, chủ yếu tập trung ở vùng nước trên dưới 50m nước. 

       -  Vùng biển Nam Trung bộ, từ 10030,-12050,E, chủ yếu tập trung ở dải độ sâu 200m trở vào tới phía bắc đảo Phú Quý.

      -  Ngư trường nam Côn Sơn, ở độ sâu 30-50m nước, từ 7030,-8000,N. 

       -  Ngư trường Hòn Khoai, dưới 30m nước.

       - Ngư trường giữa vịnh Thái Lan, từ 6000,-8000,N và 103000,-104015,E, đây là ngư trường rộng lớn, nằm ở dải độ sâu 30-100m nước, tập trung nới có độ sâu lớn hơn 50m nước. 

        Ngư trường khai thác lưới rê: 

       - Khu vực giữa vịnh Bắc bộ từ vĩ tuyến 19000,-20000,N, nằm dọc theo đường đẳng sâu 50m nước. 

       - Ngư trường ngoài khơi biển miền Trung (từ 14000,-18000,N và từ 111030,E trở vào đến độ sâu 100m), nằm rải rác trong vùng, chủ yếu là khu vực nam Hoàng Sa. 

       - Ngư trường nhỏ ngoài khơi Phú Khánh - Bình Thuận (từ 11000,-11045,N và từ 110030,E trở vào đến độ sâu dưới 30m nước). 

       - Ngư trường từ Vũng Tàu đến Côn Sơn (từ 8000,-10000,N) trong dải độ sâu 30-50m nước. 

       - Ngư trường Đông Nam bộ, nằm rải rác khắp vùng biển từ nam Bình Thuận (từ 11015,-6030,N và từ 105030,-111030,E), tập trung nhiều ở dải độ sâu 30-50m nước. 

       - Ngư trường phía nam Hòn Khoai, 7030,-8000,N và 104030,-105030,E. 

       - Ngư trường biển Tây Nam bộ từ giữa vịnh Thái Lan đến phía nam Phú Quốc và từ ven bờ ra đến hết độ sâu 50m nước (tới kinh độ 103000,E).

                                                                                                      Nguyễn Văn Kháng

Bùi Văn Tùng

Nguồn: Bách khoa thủy sản

Hội Nghề cá Việt Nam

 

TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang