Số lượt truy cập:   574919


NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỬ DỤNG, SỬA CHỮA VÀ QUẢN LÝ MÁY CHÍNH TRONG HỆ ĐỘNG LỰC TÀU CÁ XA BỜ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 26/03/17-09:34:09


NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG

SỬ DỤNG, SỬA CHỮA VÀ QUẢN LÝ MÁY CHÍNH

TRONG HỆ ĐỘNG LỰC TÀU CÁ XA BỜ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Th.S Võ Thiên Lăng

Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa

Th.S Võ Nam Thắng

Sở Nông nghiệp và PTNT Khánh Hòa

           Các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (Đà Nẵng đến Khánh Hòa) có vị trí rất quan trọng cho khai thác thủy sản, đặc biệt là hậu thuẫn cho các ngư dân vươn khơi bám biển. Bởi hiện nay, nghề đánh bắt xa bờ chủ yếu thuộc khu vực miền Trung. Khu vực này có lợi thế vùng biển nước sâu, gắn liền với nhiều ngư trường lớn như: Hoàng Sa, Trường Sa, DK1 và nhạy cảm với an ninh quốc phòng.       

         Ở vùng biển duyên hải Nam Trung Bộ, nghề khai thác thủy sản đã gắn bó lâu đời vơi ngư dân ven biển. Trong đời sống của người Việt Nam nói chung của người dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ nói riêng, từ xa xưa hoạt động đánh bắt cá dường như là hoạt động quan trọng, chỉ xếp sau canh tác nông nghiệp. Nghề khai thác cá biển xuất hiện sớm nhất ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định từ thời phong kiến nổi tiếng bởi phương tiện đánh bắt bằng các ghe bầu. Phú Yên là cái nôi đầu tiên của nghề câu cá ngừ đại dương vào năm đầu thập niên 90 và đã trở thành nghề khai thác chủ lực của ngư dân vùng biển Nam Trung Bộ.

        Đặc điểm ngư trường của các tỉnh Nam Trung Bộ xa với đất liền với khoảng cách từ bờ từ 100 - 300 hải lý; phải mất khoảng một tuần ra ngư trường, về đất liền. Ngư trường xa bờ nên thường xuyên tàu cá phải hoạt động trong điều kiện sóng gió lớn, hàng năm chịu ảnh hưởng của 8 – 10 cơn bão, lốc xoáy và áp thấp nhiệt đới. Cũng do điều kiện trên mà tàu cá thường xuyến đối mặt với rủi ro tai nạn.

        Theo số liệu của Tổng cục Thủy sản Bộ NN-PTNT, chỉ trong 5 năm (2007- 2012), cả nước đã xảy ra hơn 4.700 vụ tai nạn tàu cá, làm chết 427 người, mất tích 213 người và gần 1.400 người bị thương; còn theo Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải Việt Nam thì tai nạn chiếm tỷ lệ lớn là do sự cố kỹ thuật như tàu chết máy, hỏng máy.

      Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng sử dụng, sửa chữa và quản lý máy chính (MC) trong hệ động lực tàu cá xa bờ và giải pháp khắc phục là rất cần thiết trong điều kiện ngư dân sử dụng MC đã qua sử dụng là chủ yếu.

        Tổng quan hệ động lực tàu cá:

         Hệ động lực tàu cá là một tập hợp các thiết bị để thực hiện các quá trình biến đổi năng lượng hoá học của nhiên liệu thành nhiệt năng, cơ năng hay điện năng nhằm đảm bảo tất cả các nhu cầu cần thiết cho tàu và hệ động lực.

 


 
Sơ đồ hệ động lực tàu cá

         Hệ động lực tàu cá bao gồm:

         - MC (1): có nhiệm vụ sinh công tạo lực đẩy tàu. Trên tàu cá thường sử dụng động cơ diesel cao tốc làm MC nên phải có hộp số. Các hãng chế tạo MC trên tàu cá đều có hộp số kèm theo.

        - Thiết bị truyền động (2): có nhiệm vụ tiếp nhận công suất từ MC truyền cho thiết bị đẩy tàu (hệ trục, gối đỡ). Tàu cá Việt Nam thường là loại nhỏ nên các hãng chế tạo MC chế tạo kèm theo trục chân vịt và ống bao hoặc trong nước tự gia công theo bản vẽ thiết kế.

        - Thiết bị đẩy (3): là chân vịt có nhiệm vụ tạo lực đẩy cho con tàu.

        Ngoài ra, MC còn được trích lực kéo máy phát điện (7), tời kéo lưới (5), các đăng trích lực (6), ly hợp (4).

        Nếu ví con tàu như một cơ thể sống, thì MC là trái tim và hệ trục là động mạch chính. Hệ trục có chức năng truyền mô men xoắn từ MC đến chân vịt, nhờ đó chân vịt quay và tạo ra lực đẩy tàu đi tới.

       Từ đây có thể thấy rằng MC có vai trò hết sức quan trọng, có tính quyết định năng lực hoạt động của tàu cá.            

       Yêu cầu kỹ thuật đối với MC:

        MC tàu cá thường dùng là động cơ diesel thủy 4 kỳ cao tốc có yêu cầu về kỹ thuật rất cao trong vận hành và sửa chữa.

Ví dụ như động cơ thủy 6L160PN do Tiệp sản suất là loại động cơ 4 kỳ, 6 xilanh một hàng thẳng đứng, làm mát gián tiếp bằng nước ngọt và phun nhiên liệu trực tiếp. Máy được tăng áp bằng tua bin khí xả. Tính năng kỹ thuật và các thông số lắp ráp của động cơ thủy 6L160PN (xem ở  Phụ lục 1, 2).

          Như vậy. đòi hỏi cơ bản quan trọng nhất của MC tàu cá là phải hoạt động trong các giới hạn cho phép của các thông số kỹ thuật theo yêu cầu của nhà chế tạo với tình trạng các thông số lắp ráp cho phép của động cơ.

         Trong trường hợp cụ thể đối với động cơ diesel thủy 6L160PN các thông số lắp ráp nằm trong giới hạn từ 0,027 đến 0,16 mm cho các chi tiết và giới hạn sử dụng từ 0,15 đến 0,45 mm. Chỉ khi nào các thông số lắp ráp nằm trong giới hạn cho phép thì các thông số kỹ thuật của động cơ mới nằm trong giới hạn cho phép  và khi đó MC hoạt động an toàn, đặc biệt khi động cơ chạy đủ tải và có khả năng quá tải cho phép.

         Mỗi một MC tàu cá đều có các thông số kỹ thuật và bảng các thông số lắp ráp của động cơ do nhà chế tạo cung cấp cho khách hàng và cũng là hồ sơ gốc cần trình cho đăng kiểm quản lý. Do vậy, tài liệu kỹ thuật dùng để sử dụng và sửa chữa MC tàu cá là hồ sơ kỹ thuật của động cơ và hồ sơ kỹ thuật của động cơ ở lần sửa chữa trước.    

       Các hình thức sửa chữa MC tàu cá:

       Công tác sửa chữa MC tàu cá có thể phân thành 4 hình thức sau:   

        - Bảo dưỡng là hình thức sữa chữa thấp nhất được tiến hành một phần trong lúc vận hành, một phần ở cảng. Công việc chủ yếu là lau chùi, kiểm tra các thiết bị máy móc.    

        - Tiểu tu: công tác này được tiến hành theo định kỳ hàng năm. Nhiệm vụ chủ yếu là sửa chữa những hư hỏng được phát hiện trong lúc bảo dưỡng mà do thiếu thiết bị nên chưa sửa chữa được.

       - Trung tu: là hình thức sửa chữa vừa, được tiến hành từ 2 - 3 lần giữa 2 kỳ  đại tu. Các công việc bao gồm phần việc của công tác tiểu tu năm đó và cho tiến hành sửa chữa hoặc thay thế một số cá biệt các thiết bị không còn khả năng làm việc bình thường, đồng thời tiến hành sửa chữa, thay thế một số cấu kiện. Mục đích là duy trì sự khai thác bình thường của MC trong khoảng thời gian giữa 2 kỳ trung tu, đại tu. Nhà chế tạo luôn đưa ra các thông số về số giờ hoạt động, các chỉ tiêu kỹ thuật kèm theo.

        - Đại tu là kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa lớn. Thông thường làm cùng với lần lên ụ. Động cơ được kiểm tra toàn bộ từ bạc biên, bạc trục, sơ-mi,... Nói chung là toàn bộ. Thời hạn này thông thường tối đa 5 năm. Thời hạn trên được nhà chế tạo đưa ra và được Đăng kiểm chấp nhận. Khi đại tu, cần có sự chứng kiến của Đăng kiểm viên. Khi họ thấy đạt yêu cầu, thì mới được phép chạy máy.      

          THỰC TRẠNG SỬ DỤNG, SỬA CHỮA VÀ QUẢN LÝ MC CÓ CÔNG SUẤT >90CV TRÊN TÀU CÁ

Để nghiên cứu thực trạng sử dụng, sửa chữa và quản lý MC trên tàu cá có công suất >90CV, chúng tôi chọn tập mẫu khảo sát là 1.247 chiếc tàu cá có công suất >90CV của Khánh Hòa đại diện cho khối tàu đánh cá của các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

1.     Sử dụng MC trên tàu cá Khánh Hòa

 Bảng 1: Tổng hợp các nghề khai thác thủy sản có công suất >90CV tại Khánh Hòa (đến 30/01/2017)

Câu

DVTS

Lưới kéo

  Mành chụp

Vây

Nghề khác

Tổng cộng

310

210

85

277

20

66

279

1.247

                             Nguồn: Chi cục Thủy sản Khánh Hòa

Bảng 2: Chủng loại MC được sử dụng trên tàu cá Khánh Hòa

(đến 30/01/2017)

Nước

sản xuất

Hãng

chế tạo

Số lượng chủng loại MC

Dãi

công suất

(CV)

 

Số tàu/máy chính khảo sát (chiếc)

 MCsử dụng

MC mới

MC cũ

SL

%

SL

%

SL

%

NHẬT BẢN

6

240

90 - 1.020

615

49,33

 

 

 

 

HÀN QUỐC

4

57

97 - 800

337

27,02

 

 

 

 

MỸ

2

122

217- 1.150

272

21,81

11

0,9

1.236

99,1

TRUNG QUỐC

2

13

190 - 540

18

  1,44

 

 

 

 

THỤY ĐIỂN

1

5

110 - 620

5

    0,4

 

 

 

 

Tổng cộng

15

437

90 - 1.150

 

 

 1.247

 

 

 

          Ghi chú: SL - số lượng                             Nguồn: Chi cục Thủy sản Khánh Hòa

Bảng 3: Chủng loại MC của các hãng được sử dụng nhiều cho các nghề

Nghề

ĐVT

Câu

Lưới kéo

Pha xúc

Hãng chế tạo

 

 

 

 

 

Yanmar

chiếc

94

-

-

-

Misubishi

chiếc

-

-

63

68

Hino

chiếc

-

-

57

-

Daewoo

chiếc

65

-

-

-

Cummins

chiếc

90

70

61

-

Nguồn: Chi cục Thủy sản Khánh Hòa

Bảng 4: MC trên tàu cá >90CV của Khánh Hòa không có hồ sơ gốc

Nước sản xuất

Số lượng hãng

chế tạo

Máy chính không có hồ sơ gốc

Dãi

công suất

(CV)

%/tổng số

máychính >90CV

NHẬT BẢN

6

52

90 - 720

4,17

HÀN QUỐC

4

11

100 - 420

0,88

MỸ

2

32

400 - 450

2,56

TRUNG QUỐC

2

0

-

0,0

THỤY ĐIỂN

1

2

-

0,16

Tổng cộng

15

97

-

7,77

                             Nguồn: Chi cục Thủy sản Khánh Hòa

Bảng 5: Tổng hợp các nghề khai thác biển xa của Khánh Hòa

(theo số lượng tàu đăng ký đến 30/01/2017)

Câu

DVTS

Mành

Chụp

Vây

 

Tổng cộng

267

170

16

23

22

498

                             Nguồn: Chi cục Thủy sản Khánh Hòa

Bảng 6: Các loại tai nạn của đội tàu khai thác biển xa của Khánh Hòa

Loại

tai nạn

 

Hư hỏng MC

Bị

chìm

(va chạm, phá nước)

Thuyền viên bị tai nạn, mất tích

Sétđánh, mất lưới

TQ rượt đuổi, tịch thu tài sản

Bị các nước bắt

Cộng

Năm

2015

8

5

4

2

2

0

21

2016

7

6

6

0

1

2

22

Cộng

15

11

10

2

3

2

43

Nguồn: Chi cục Thủy sản Khánh Hòa

Bảng 7: Tổng hợp tình hình hư hỏng MC của đội tàu khai thác biển xa Khánh Hòa

Năm

2015

%/tổng tàu

KT biển xa

2016

%/tổng tàu KT biển xa

Số lượng (chiếc)

8

1,6

7

1,4

Nguồn: Chi cục Thủy sản Khánh Hòa     

Bảng 8: Phân tích hư hỏng MC của đội tàu khai thác biển xa Khánh Hòa

Năm

2015

(chiếc)

Dãi

công suất

Nghề

2016

(chiếc)

Dãi công suất

Cộng

Hãng chế tạo

 

 

 

 

 

 

Cummins

7

295 - 410

Câu cá ngừ đại dương

6

295 - 460

13

Yamaha

0

 

-nt-

1

 

1

Yanmar

1

 

-nt-

0

 

1

Cộng

8

 

-nt-

7

 

15

Nguồn: Chi cục Thủy sản Khánh Hòa    

     Nhận xét:

1)    Từ Bảng 1, 2, 3, 4 có thể thấy rằng:

-         Ngư dân Khánh Hòa sử dụng MC của 5 nước sản xuất là Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc và Thụy Điển do 16 hãng chế tạo, bao gồm: 6 hãng Yanmar, Isuzu, Mitsubishi, Hino, Yamaha, Komatsu (Nhật Bản); 4 hãng Daewoo, Hyundai, Doosan, Daedong (Hàn Quóc); 2 hãng Cummins và Caterpillar (Mỹ); 2 hãng Yuchai và Wechai (Trung Quốc); Thụy Điển có 1 hãng chế tạo là Volvo.

-         Ngư dân Khánh Hòa sử dụng 437 loại MC với dãi công suất 90 - 1.150CV do các hãng trên chế tạo.

-         MC của các hãng được sử dụng nhiều nhất là Nhật Bản 615 chiếc chiếm 49,33% tổng số MC khảo sát; Hàn Quốc 337 chiếc chiếm 27,02% và cuối cùng là Mỹ 272 chiếc chiếm 21,81%.

-         MC của hãng Yanmar được sử dụng nhiều cho nghề câu cá ngừ đại dương 94 chiếc; hãng Mitsubishi sử dụng nhiều cho nghề lưới kéo 63 chiếc, pha xúc 68 chiếc; hãng Hino sử dụng nhiều cho nghề lưới kéo 57 chiếc; hãng Daewoo sử dụng nhiều cho nghề câu cá ngừ đại dương 65 chiếc; hãng Cummins sử dụng nhiều cho nghề câu cá ngừ đại dương 90 chiếc, rê 70 chiếc, lưới kéo 61 chiếc.

-         MC của hãng Cummins (Mỹ) được sử dụng nhiều nhất 257 chiếc; thứ nhì là hãng Daewoo (Hàn Quốc) 189 chiếc và cuối cùng là hãng Yanmar (Nhật Bản) 106 chiếc.

-         Máy cũ chiếm 99,1%, máy mới chỉ chiếm 0,9% (11 chiếc tàu đóng mới theo Nghị định số: 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản).

-         MC không có hồ sơ gốc là 87 chiếc chiếm 7,77% tổng số MC có công suất >90CV của Khánh Hòa.

2)    Từ Bảng 5, 6, 7, 8 qua khảo sát tập mẫu 498 tàu khai thác biển xa (đăng ký theo Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa), các loại tai nạn của đội tàu khai thác biển xa, tình hình hư hỏng MC của đội tàu khai thác biển xa và phân tích hư hỏng MC của đội tàu khai thác biển xa Khánh Hòa cho thấy:

     - Các loại tai nạn thường gặp trong 2 năm 2015 và 2016 là hư hóng MC 15 chiếc chiếm 34,88% tổng tai nạn; bị chìm do tàu nước ngoài đâm hoặc phá nước 11 chiếc (25,58 %); thuyền viên bị tai nạn trong quá trình khai thác hoặc rơi xuống biển mất tích 10 chiếc (23,25%); tàu bị sét đánh, mất lưới do tàu khác mang đi 2 chiếc (4,66%); tàu Trung Quốc rượt đuổi tịch thu sản 3 chiếc (6,97%); tàu bị các nước như Malaysia, Indonesia bắt 2 chiếc (4,66%).

    - Năm 2015, có 8 chiếc tàu bị hỏng MC (2 trường hợp bị gãy trục khuỷu có thể do hạ cốt vượt quá quy định của nhà chế tạo) chiếm 1,6%/tổng số tàu khai thác biển xa; năm 2016, có 7 chiếc tàu bị hỏng MC chiếm 1,4%/tổng số tàu khai thác biển xa.

    - Trong 15 chiếc tàu bị hỏng MC thì có đến 13 chiếc MC của hãng Cummins (Mỹ) chiếm 86,6%/tổng số MC bị hỏng. Điều này xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do sự phức tạp trong sử dụng hệ thống nhiên liệu bơm cao áp – vòi phun liên hợp của máy Cummins mà máy trưởng chưa cập nhật được so với bơm cao áp đơn hoặc bơm cao áp cụm của các hãng của Nhật Bản, Hàn Quốc.

   - Tất cả các tàu bị hỏng MC tại ngư trường Trường Sa trong các cơn bão xảy ra trong năm 2015 và 2016 từ tháng 1 đến tháng 12.

   2. Sửa chữa MC tàu cá

          Việc sử dụng MC đã qua sử dụng của nhiều nước sản xuất và nhiều hãng chế tạo với số lượng 437 loại MC là thực tế ở Khánh Hòa và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

          MC đã qua sử dụng được ngư dân gọi là Máy cũ - là loại máy bãi "xi cần hen" (second - hand, loại máy cũ đã bị các nước Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc thải ra, các công ty buôn máy nhập về bán lại cho ngư dân).             

     Theo chúng tôi tất cả các máy bãi này đều ở dạng trung tu nhiều lần hoặc đại tu. Với số lượng đén 437 loại MC như ở Khánh Hòa thì không thể có đủ lượng phụ tùng chính hiệu để thay thế hoặc không có (đặc biệt đối với những loại MC sản xuất quá lâu) nên về đến Việt Nam, thay thế phụ tùng tào lao "ba cha bảy mẹ", thay chi tiết máy theo kiểu chắp vá thành máy mới. Bỏ xuống tàu chạy được vài năm, máy rệu rạo sinh ra đủ thứ bệnh. Mỗi năm phải chi ra vài chục triệu đồng, thậm chí vài trăm triệu để "nuôi", theo ngư dân dùng máy cũ tiêu tốn nhiên liệu hơn máy mới khoảng 20%.

         Thực tế khi chủ tàu muốn thay máy có công suất lớn hơn thì họ phải nhờ đến thợ máy quen biết đến các bãi bán máy cũ ở TP. Hồ Chí Minh để mua máy. Với kinh nghiệm của mình họ chọn máy vừa ý cho chủ tàu. Người mua chỉ được xem phía bên ngoài máy, không được bung máy ra xem. Sau đó, thợ máy rả máy kiểm tra tình trạng các chi tiết và thay mới các chi tiết bị hư hỏng. Các công đoạn này không ai kiểm tra, không có bất kỳ một hồ sơ kỹ thuật MC sau khi sửa chữa cấp đại tu lần thứ bao nhiêu?

        Thay MC đã qua sử dụng  có công suất lớn hơn với kích thước tàu không đổi hoặc có thay đổi không đáng kể để được hỗ trợ tiền dầu nhiều hơn theo Nghị định 48 của Chính phủ thì sự phù hơp giữa máy - vỏ - chân vịt không bao giờ có cũng là nguyên nhân dẫn đến hư hỏng MC.

2.     Vận hành MC tàu:

        Mỗi loại MC có đặc điểm cấu tạo riêng, do vậy việc vận hành phải thực hiện nghiêm túc các quy định của nhà chế tạo sao cho các thông số kỹ thuật nằm trong giới hạn cho phép, MC có công suất càng lớn thì yêu cầu kỹ thuật trong vận hành càng cao.

        Mặc dù, các máy trưởng trên các tàu khai thác xa bờ đều có chứng chỉ máy trưởng hạng 3, hạng 4, nhưng chương trình đào tạo chưa kịp thời cập nhật với thực tế phát triển quá nhanh các loại MC có công suất lớn đến trên 1.000 CV của nhiều hãng chế tạo.

        Thuyền trưởng và lao động trên tàu ít hiểu kỹ thuật, khi bị trục trặc ở giữa biển không biết đâu mà khắc phục. Khi gặp sự cố trên biển thì thuyền trưởng gọi về cho thợ máy của mình ở đất liền để “cầu cứu”. Nếu là sự cố lặt vặt máy trưởng có thể khắc phục, nếu sự cố lớn thì bó tay, thả trôi tàu.

        Trong vận hành MC việc thực hiện đúng các chế độ bảo dưỡng, sửa chữa đinh kỳ rất quan trọng nhằm đảm bảo chúng hoạt động an toàn trong suốt thời gian vận hành, điều này ít được chủ tàu quan tâm, hơn nữa máy trường không cố định do chủ tàu thuê.

        Chất lượng sửa chữa MC đã qua sử dụng nhập khẩu từ nước ngoài không theo quy định của nhà chế tạo có thể dẫn đến xuất hiện quá tải ứng suất nhiệt, ứng suất cơ khi tăng ga vượt qua sức cản lớn (lúc sóng to, gió lớn) dẫn đến sự gảy, vỡ các chi tiết của MC. Vì vậy, hư hỏng MC thường xuất hiện trong các cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới.

       Vấn đề đào tạo nâng cao kỹ năng chạy tàu và sửa chữa máy móc, cũng đang có nhiều lo lắng. Nhiều ngư dân có học vấn thấp, trình độ đi biển chủ yếu dựa theo kinh nghiệm, ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ tàu cá còn rất yếu. Công tác đào tạo cấp bằng thuyền trưởng, máy trưởng không có tác dụng bao nhiêu. Ngư dân với trình độ cấp 1, thậm chí có nhiều người còn mù chữ được đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng chỉ trong “có mấy ngày” không theo kịp sự “bùng nổ” chủng loại MC công suất lớn của nhiều hãng chế tạo. Những bất cập trên đã “đóng góp” vào nguyên nhân xảy ra nhiều vụ tai nạn tàu cá trên biển những năm gần đây.

       3. Quản lý MC:

        - Một lỗ hổng lớn trong việc nhập khẩu MC là quá nhiều chủng loại MC của nhiều hãng và của nhiều nước, đặc biệt có đến 7,77% MC không có hồ sơ gốc.   

        - Cơ quan đăng kiểm địa phương yếu và thiếu kỷ sư máy tàu cá nên việc kiểm tra, kiểm soát các công đoạn sửa chữa MC tàu cá không được tiến hành theo quy định. Do không có bệ thử tại bến nên việc thử tại bến không được tiến hành, chỉ tiến hành thử đường dài không tải là cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật. Với số lượng MC >90CV là 1.247 chiếc ở Khánh Hòa mà Phòng Đăng kiểm tàu cá có 5 nhân sự, thì việc Đăng kiểm tàu cá cũng chỉ mang tính hình thức.

       - MC không có hồ sơ gốc, mà Đăng kiểm vẫn cấp giấy phép điều này tạo điều kiện cho các nhà nhập khẩu nhập máy không còn khả năng sử dụng để kiếm lời.      

         Thảo luận:              

          Năm 2000 (Phụ lục 4), 6 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có 4.345 MC (theo số lượng tàu) đến năm 2005 tăng gần gấp đôi là 7.908 MC; năm 2010 với tổng công suất là 689.500CV tăng so với năm 2005 là 3,7 lần; năm 2015 số lượng MC chỉ tăng thêm 268 chiếc nhưng tổng công suất tăng gấp 4,4 lần so với năm 2010, gấp 6,4 lần năm 2005 và tăng gấp 16,2 lần so với năm 2000.

        Riêng ở Khánh Hòa (Phụ lục 5), giai đoạn 2009 - 2015, tổng công suất đội tàu toàn tỉnh tăng từ 408.930CV lên đạt 525.164CV, trong đó nhóm tàu xa bờ tăng từ 320.730CV lên 372.300CV. Bình quân công suất tàu thuyền tăng từ 40,8CV lên tới 53,5CV. Bình quân công suất tàu xa bờ tăng từ 120CV lên 300CV. Tàu lắp MC >400CV tăng bình quân 53,3%/năm.

        Sự tăng nhanh về công suất do những chủ trương, chính sách của Trung ương, địa phương theo định hướng phát triển khai thác xa bờ, ngư dân cải hoán, nâng cấp và đóng mới các tàu theo hường vươn khơi.

       Việc tăng lớn và nhanh tổng công suất MC trên tàu cá khai thác xa bờ được ghi nhận vào đầu năm 2010, trong đó việc nâng cấp tàu có công suất nhỏ thay bằng MC có công suất cao hơn để có thể nhận được hỗ trợ tiền dầu theo Nghị định 48/2010/NĐ- CP nhiều hơn, một số chủ tàu ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ còn gắn 2 máy chính.

        Nếu lấy số liệu của Khánh Hòa đại diện cho các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với chỉ số trung bình hư hỏng MC trên biển xa trong quá trình khai thác là 1,5% với tổng số tàu khai thác xa bờ là 8.332 chiếc (Phụ lục 4) thì một năm các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có đến khoảng 125 chiếc tàu bị hỏng MC, thả trôi tàu.    

        Dự báo số lượng tàu bị hỏng MC ngày càng gia tăng nhanh do chất lượng sửa chữa MC đã qua sử dụng không đảm bảo kỹ thuật như đã phân tích ở trên.

       Nghiên cứu tình hình kinh doanh, sửa chữa MC để lắp xuồng tàu đóng mới hoặc cải hoán có thể thấy rằng:

    - Công việc sửa chữa MC, đặc biệt đối với MC các nước thải ra ở bãi đòi hỏi trình độ tay nghề cao có khả năng sửa chữa cấp đại tu, có đầy đủ cơ sở vật chất và phải được quản lý chặt chẽ vì vai trò của MC quyết định sự sống của con tàu.

         MC sau khi mua ở bãi Việt Nam về, thợ máy rã ra kiểm tra và thay thế phụ tùng hoặc sửa chữa lớn như: hạ cốt trục khuỷu, thay thế các phụ tùng không còn sử dụng, đo đạt các thông số lắp ráp… Toàn bộ hồ sơ kỹ thuật này chủ tàu không biết, đăng kiểm không lưu giữ, do vậy hầu như các MC cũ đều không có hồ sơ kỹ thuật theo quy định mặc dù đã được cấp Giấy an toàn kỹ thuật.

- Một đặc điểm nữa cần đề cập là các cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu cá của Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng được các cơ quan chức năng cấp phép hoạt động chỉ thực hiện đóng mới hoặc sửa chữa vỏ tàu còn việc sửa chửa MC đã qua sử dụng thuộc tổ chức hoặc cá nhân nào đó do chủ tàu chọn. Sau khi hoàn tất công tác sửa chữa họ chuyển xuống lắp vào tàu, sau đó chạy thử theo quy định. Thường thì cán bộ Đăng kiểm chỉ xuất hiện khi thử đường dài. Đây là lỗ hỏng lớn trong công tác quản lý an toàn kỹ thuật đối với hệ động lực của tàu cá.   

Một công đoạn cực kỳ quan trọng là kiểm tra an toàn kỹ thuật của MC đã bị bỏ qua không thể truy cứu trách nhiệm cho ai một khi bị hỏng MC phải thả trôi tàu trên biển. Tình trạng này xuất hiện ngày càng nhiều đe dọa đến tính mạng và tài sản của chủ tàu và ngân sách của Nhà nước. Từ đây có thể thấy rằng việc quản lý các cơ sở sửa chữa MC là rất cần thiết đồng thời với việc quản lý các cơ sở đóng mới và cải hoán tàu cá.

    Các vụ tai nạn tàu cá thời gian qua gia tăng đột biến, theo Bộ đội biên phòng cho biết, đa phần tàu cá bị nạn là tàu đánh bắt xa bờ ngoài Hoàng Sa và Trường Sa do gặp vấn đề kỹ thuật, phá nước, hỏng máy… trong khi việc đưa tàu ra tìm kiếm cứu nạn rất tốn kém.

    Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam Nguyễn Hoàng cho rằng, vùng biển chủ quyền của Việt Nam có trên 1 triệu km2, tàu cá gần đây tăng lớn. “Thực tế, chi phí cho mỗi vụ cứu nạn tàu cá ngoài Hoàng Sa, Trường Sa lên tới vài trăm triệu đến 1 tỷ đồng. Tất cả đều là tiền của Nhà nước”, ông Hoàng nói và cho biết thêm, ngư dân tự cứu nhau rất hiệu quả song vì ảnh hưởng đến chi phí nên họ muốn đẩy cho Nhà nước. Nếu có cơ chế, chuyển kinh phí cứu nạn cho ngư dân, họ sẽ tình nguyện cứu nhau.     

       GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

        Trước thực trạng trên, việc xây dựng và thực hiện các giải pháp giúp ngư dân yên tâm bám biển đặt ra bức thiết. Trong đó có thể kể đến một số giải pháp cơ bản:

1.     Nhập khẩu MC và phụ tùng

         Cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường quản lý đầu vào, siết chặt các quy định về nhập khẩu máy tàu, linh kiện để nâng cao chất lượng máy tàu. Muốn vậy, cần thực hiện nghiêm túc Điều 4. Yêu cầu kỹ thuật đối với máy thủy cũ của Thông tư số: 51/2025/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2015 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Quy định về yêu cầu kỹ thuật và kiểm tra an toàn kỹ thuật máy thủy đã qua sử dụng lắp đặt trên cá.

   Theo chúng tôi, Thông tư này về lâu dài được áp dụng cho việc nhập máy thủy cũ đã qua sử dụng lắp trên tàu cá có công suất >400CV nói chung chứ không riêng cho Nghị định số: 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản và Nghị định số: 89/2015/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 67/2014 ngày 07/07/2014 của Chính phủ. Về chủng loại máy chỉ cho các Công ty nhập khẩu của Việt Nam nhập các chủng loại máy: Yanmar, Mitsubishi, Hino (Nhật Bản); Cummins (Mỹ); Daewoo (Hàn Quốc) với thời gian sử dụng không quá 10 năm từ ngày sản xuất.   

2.     Quản lý cơ sở sửa chữa MC tàu cá

    Sửa đổi Điều 73. Điều kiện cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá như sau:

    Điều 73. Điều kiện cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá và sửa chữa máy chính tàu cá

    1. Cở sở đóng mới, cải hoán tàu cá và sửa chữa máy chính tàu cá phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

       - Có cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp, có phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh với chủng loại, kích cỡ tàu cá đóng mới, cải hoán, sửa chữa tàu cá và sửa chữa máy chính tàu cá ở cấp đại tu;

       - Có đủ nhân lực đáp ứng yêu cầu kinh doanh, đóng mới tàu cá và sửa chữa máy chính tàu cá ở cấp đại tu. 

    2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này

    Ghi chú: Dòng chữ nghiêng là dòng bổ sung vào Điều 73 của Luật Thủy sản (Sửa đổi dự thảo lần 3).

3. Tăng cường nhân sự Phòng Đăng kiểm Chi cục Thủy sản

     Cần bổ sung 2 - 3 kỷ sư máy tàu cho Phòng Đăng kiểm địa phương.

     Tiến hành quản lý hồ sơ kỹ thuật của MC ở lần sửa chữa trước, trước mắt thực hiện đối với khối tàu khai thác biển xa.

    4. Tăng cường cơ sở vật chất cho Đăng kiểm địa phương

   Thiếu bệ thử tại bến nên Đăng kiểm chỉ thực hiện chạy thử đường dài không tải. Cần xây dựng bệ thử nghiệm tại bến cho Chi cục Thủy sản từng địa phương.    

   Chỉ có thử tại bến mới phát hiện các bệnh tật của MC trên tàu cá, trước khi xuất bến ra ngư trường biển xa.

   5. Công tác đào tạo

   a) Đối với Đăng kiểm viên:

    Cần có chương trình nâng cao chuyên môn đối với cán bộ đăng kiểm đặc biệt đối với kiểm tra giám sát đóng mới tàu vỏ thép và vỏ composite; đối với cán bộ đăng kiểm theo dõi MC tàu cá cần bổ sung chuyên môn về các chủng loại máy có công suất lớn và cần được thực hành sửa chữa và vận hành.

  b) Đối với máy trưởng:

        Cần triển khai chương trình đào tạo nâng cao năng lực máy trưởng hạng 4 (đạt trình độ trung cấp chuyên nghiệp) theo Nghị định số: 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản.

  6. Công tác tìm kiếm cứu nạn

        Để bảo đảm an toàn tàu cá khi hoạt động trên ngư trường biển xa, nhiều địa phương đã tổ chức lại sản xuất trên biển theo hướng liên kết các tàu khai thác thành các tổ, đội sản xuất theo nguyên tắc “ba cùng” (cùng nghề, cùng ngư trường, cùng địa bàn cư trú) và hoạt động trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, có sự hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên. Đến nay, cả nước đã thành lập được gần vài trăm nghiệp đoàn nghề cá; gần 3.500 tổ, đội sản xuất và hợp tác xã, với sự tham gia của gần 21.400 tàu cá (bình quân 6 - 7 tàu/tổ) và hàng trăm nghìn lao động.     

        Hình thành một số mô hình tổ, đội đánh cá trên biển, trong đó đầu tư trang bị các phương tiện hiện đại cho tàu trưởng nhóm, nhằm phát huy hiệu quả cao nhất trong tìm kiếm cứu hộ và khoán cho đội tàu kinh phí tìm kiếm cứu hộ.

 

 

  TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. An toàn tàu cá trên biển và giải pháp giúp ngư dân bám biển. http://www.fistenet.gov.vn. Hồ Công Hường. Viện Chiến lược phát triển, 2013.

2. Hoạch định không gian khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Khánh Hòa

Th.S Võ Thiên Lăng Chủ tịch, Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa. http://www.khafa.org.vn, tháng 6/2014

3. Vì sao tai nạn tàu cá trên biển ngày càng gia tăng?

http://www.thuysanvietnam.com.vn, tháng 8/2011

4. Vì sao tai nạn tàu cá trên biển gia tăng? Bài 2: Ngư dân vẫn “tự bơi”

http://www.baomoi.com, tháng 12/2010

5. Thiết kế quy trình công nghệ sửa chữa động cơ diesel 6L160PN Luận văn tốt nghiệp Khoa cơ khí Trường Đại học Hàng hải. 2014

6. An toàn tàu cá trên biển và giải pháp giúp ngư dân bám biển http://www.fistenet.gov.vn. 2013

7. Thông tư số: 51/2025/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2015 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Quy định về yêu cầu kỹ thuật và kiểm tra an toàn kỹ thuật máy thủy đã qua sử dụng lắp đặt trên cá.

8. Luật Thủy sản (Sửa đổi) (Dự thảo 3), 2017.

9. Nghị định số: 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản và Nghị định số: 89/2015/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số: 67/2014 ngày 07/07/2014 của Chính phủ

 

 PHỤ LỤC

Phụ lục 1:  Các tỉnh năng kỹ thuật của động cơ thủy 6L160PN

Công suất định mức của động cơ                    :   N eH = 140 (kW)

Vòng quay định mức của động cơ                  :   n H  = 750 (V/P)

Công suất lớn nhất                                         :   Ne = 145 (kW)

Vòng quay lớn nhất                                       :   n = 780 (v/p)

Số lượng xi lanh                                             :   i = 6

Đường kính xilanh                                         :   D = 160 (mm)

Hành trình piston                                           :   S = 225 (mm)

Tỷ số nén                                                       :   e =  13,5

Suất tiêu hao nhiên liệu                                  :   g = 210 (g/kWh)

Nhiệt độ khí xả ra khỏi xilanh                       :   t0Max =  500 0C

Nhiệt độ khí xả trước tua bin tăng áp             :   t0Max = 520 0C

Nhiệt độ nước ngọt vào động cơ                     :   t0 = 700C

Nhiệt độ nước làm mát ra khỏi động cơ          :   < 800 C

Nhiệt độ dầu bôi trơn vào                              :   < 720 C

Áp suất phun                                                 :   250 kG/cm2

Áp suất gió khởi động                                    :   (25¸30) kG/cm2

Áp suất khí xả                                                :   30 kG/cm2

Áp suất khí nạp                                              :   2 kG/cm2

Áp suất dầu bôi trơn                                     : (2,5¸3) (kG/cm2)

Đường kính cổ biên:                                       : 105 mm

 Phụ lục 2. Các thông số lắp ráp của động cơ thủy 6L160PN

STT

Tên chi tiết bộ phận

Thông số lắp ráp

Giới hạn sủ dụng

1

Khe hở dầu của bạc trục cơ

0,15  ¸  0,2

0,3

2

Khe hở dầu của bạc đầu to biên

0,1  ¸  0,16

0,3

3

Khe hở dầu của bạc đầu nhỏ biên

0,056 ¸ 0,085

0,25

4

Khe hở dầu của bạc trục cam

0,03 ¸ 0,12

0,2

5

Khe hở dẫn hướng của xupap hút, xả

0,07 ¸  0,11

0,15

6

Khe hở miệng xecmăng

0,15 ¸ 0,85

2,5

7

Khe hở hướng trục của bạc biên

0,08 ¸ 0,12

0,45

8

Khe hở giữa xecmăng và piston

0,07 ¸ 0,12

0,85

9

Khe hở chốt và con cò xupap

0,027 ¸ 0,081

0,35

10

Độ nhô ra của chốt piston

0 ¸  0,025

0,025

11

Khoảng trống giữa đỉnh piston và nắp xi lanh tại (ĐCT)

3 ± 0,1

 

        Phụ lục 3. Bảng kê dụng cụ, thiết bị tối thiểu cần phải có của một đơn vị sửa chữa MC ở cấp đại tu

TT

Tên dụng cụ, thiết bị

Quy cách

Số lượng

Ghi chú

    Dụng cụ đo kiểm tra

1

Panme đo ngoài

0 – 25mm

100– 200mm

1-2 cái

1 bộ

 

2

Panme đo trong

100 – 200mm

1 bộ

 

3

Thước cặp các loại

150mm

300mm

1-2 cái

1-2 cái

 

4

Calip mẫu

 

 

 

5

Đồng hồ so (Comparateur)

 

1 bộ

 

6

Thước lá các loại

 

 

 

 

                                

 Thiết bị chuyên         

dùng

 

1

Thiết bị nâng hạ chuyên dùng

 

Đồng bộ, 10 tấn

 

2

Thiết bị bàn nguội (bàn mát, giá đỡ V chuẩn)

 

1 bộ

 

3

Vam chuyên dùng

 

1 bộ

Tháo xi lanh

4

Thiết bị thử chuyên dung kiểm tra vòi phun

 

1 bộ

 

5

Thiết bị thử bơm cao áp đơn

 

1 bộ

 

6

Thiết bị thử bơm cao ấp cụm

 

1 bộ

 

7

Máy công cụ (máy mài,.máy tiện, máy doa…)

 

Đồng bộ

 

8

Các thiết bị kiểm tra khuyết tật của chi tiết (máy phát hiện khuyết tật siêu âm, máy phát hiện khuyết tật bằng bột từ)

 

Đồng bộ

 

9

Máy nén khí

 

 

 

10

Thiết bị thử thủy lực chuyên dùng

 

 

Nắp xi lanh, piston, xilanh

11

Các trang thiết bị hạ cốt máy chính

 

 

Theo quy định của nhà chế tạo

   

   

 

 

 

 

         Phụ lục 4. Số lượng tàu đánh bắt hải sản xa bờ có công suất >90CV các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ

                                                                                                                                  ĐVT: 1.000 CV

Địa phương

2000

2005

2010

2015

SL

(chiếc)

TCS

(CV)

SL

(chiếc)

TCS

(CV)

SL

(chiếc)

TCS

(CV)

SL

(chiếc)

TCS

(CV)

Đà Nẵng

        45

       7,4

276

33,1

175

30,7

335

141,6

Quảng Nam

      462

     25,8

540

30,0

569

41,6

479

152,0

Quảng Ngãi

      546

     40,5

  1.897

121,4

    2.254

195,7

     2873

1005,8

Bình Định

   2.795

    116,9

  3.784

198,3

    3.827

265,6

     2832

1030,6

Phú Yên

        82

       8,9

755

56,7

    1.389

117,8

       983

243,4

Khánh Hòa

      415

     27,8

665

35,1

594

38,1

830

208,8

Cộng

    4.345

    186,8

7.908

474,6

8.064

689,5

8.332

3.024,8

% tổng số

 cả nước

44,5

 

38,5

 

30,5

-

29,0

 

Ghi chú: SL - Số lượng; TCS - Tổng công suất            Nguồn: Tổng cục thống kê

 

Phụ lục 5.Tàu thuyền theo công suất tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2009-2015

TT

Danh mục

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

TTBQ

(%/năm)

I

Loại tàu (chiếc)

10.026

9.683

9.703

9.782

9.818

9.792

9.810

-0,4

1

Loại <20

5.252

5.538

5.538

5.534

5.529

5,519

5.529

0,9

2

Loại 20-<50

3.414

2.639

2.590

2.555

2.529

2.500

2.457

-5,3

3

Loại 50-<90

623

662

637

610

581

557

583

-1,1

4

Loại 90-<250

570

591

581

579

503

470

453

-3,8

5

Loại250-<400

138

217

286

369

444

423

411

19,9

6

Loại >400

29

36

71

135

232

323

377

53,3

 

Tàu >90

737

844

938

1.083

1.179

1.216

1.241

9,1

II

Công suất (CV)

 408.930

 421.212

434.900

460.309

479.910

508.364

525.164

4,3

1

Nhóm <90

320.730

303.332

260.320

189.559

126.210

143.564

152.864

-11,6

2

Nhóm >90

88.200

117.880

174.580

270.750

353.700

364.800

372.300

27,1

 

BQ/tàu

40,8

43,5

44,8

47,1

48,0

51,9

53,5

4,6

 

BQ/tàu xa bờ

120

140

186

250

300

300

300

16,6

 Nguồn: Sở NN&PTNT Khánh Hòa 2015


VP Tỉnh hội




CÁC TIN KHÁC
  VẬT LIỆU COMPOSIT CHO TÀU CÁ
  TỔNG QUAN NGHỀ LƯỚI VÂY (kỳ cuối)
  TỔNG QUAN NGHỀ LƯỚI VÂY (kỳ 1)
  ĐẦU TƯ HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN SAU THU HOẠCH CHO ĐỘI TÀU KHAI THÁC XA BỜ TỈNH KHÁNH HÒA THEO NGHỊ ĐỊNH 67/2014/NĐ-CP
  NGHIÊN CỨU GẮN LIỀN VỚI ỨNG DỤNG PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG
  CẦN SỬ DỤNG ĐÈN LED KHAI THÁC HẢI SẢN
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang