Số lượt truy cập:   574110


TỔNG QUAN NGHỀ LƯỚI VÂY (kỳ 1)
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 23/09/15-03:56:07

CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM, HOẠCH ĐỊNH KHÔNG GIAN KHAI THÁC CÁ NGỪ VẰN ĐỂ XÂY DỰNG ĐỘI TÀU LƯỚI VÂY Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ


CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM, HOẠCH ĐỊNH KHÔNG GIAN KHAI THÁC CÁ NGỪ VẰN ĐỂ XÂY DỰNG ĐỘI TÀU LƯỚI VÂY Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

Th.S Võ Thiên Lăng

Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hoà

Th.S Võ Nam Thắng

Sở Nông nghiệp &PTNT Khánh Hoà

       TỔNG QUAN NGHỀ LƯỚI VÂY VIỆT NAM

       MỞ ĐẦU

           Khánh Hòa cũng như các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ có vị trí rất quan trọng cho khai thác thủy sản, đặc biệt là hậu thuẫn cho các ngư dân vươn khơi bám biển. Bởi hiện nay, nghề đánh bắt xa bờ chủ yếu thuộc khu vực miền Trung. Khu vực này có lợi thế vùng biển nước sâu, gắn liền với nhiều ngư trường lớn như: Hoàng Sa, Trường Sa, DK1 và nhạy cảm với an ninh quốc phòng.

          Ở vùng biển duyên hải Nam Trung bộ, nghề khai thác thủy sản đã gắn bó lâu đời vơi ngư dân ven biển. Trong đời sống của người Việt Nam nói chung của người dân các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ nói riêng, từ xa xưa hoạt động đánh bắt cá dường như là hoạt động quan trọng, chỉ xếp sau canh tác nông nghiệp. Nghề khai thác cá biển xuất hiện sớm nhất ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định từ thời phong kiến nổi tiếng bởi phương tiện đánh bắt bằng các ghe bầu. Phú Yên là cái nôi đầu tiên của nghề câu cá ngừ đại dương vào năm đầu thập niên 90 và đã trở thành nghề khai thác chủ lực của ngư dân vùng biển Nam Trung bộ.

Trong sự phát triển ngành thủy sản của các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, khai thác thủy sản có vị trí đặc biệt quan trọng và đã có bước phát triển nhanh, mạnh mẽ trong những năm qua. Tổng số tàu thuyền năm 2013 là 34.175 chiếc với tổng công suất là 2.981.493 CV, bình quân công suất của đội tàu khai thác là 87,3 CV/chiếc (cao gấp 1,5 lần so với bình quân cả nước). Sản lượng khai thác thủy sản năm 2013 đạt 537.971 tấn, chiếm gần 20% tổng sản lượng khai thác thủy sản cả nước (2,71 triệu tấn).

Tuy nhiên, nguồn lợi thủy sản đang trong tình trạng ngày càng suy giảm cả về chất lượng và số lượng, đặc biệt là ở các vùng biển ven bờ. Nhiều dấu hiệu cho thấy sự bền vững của nghề khai thác thủy sản ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ đang đứng trước những thách thức về nguồn lợi, hiệu quả kinh tế và môi trường.

      Khai thác thuỷ sản xa bờ là định hướng phát triển bền vững.

           Nghề khai thác thuỷ sản xa bờ ở Việt Nam được quan tâm phát triển từ năm 1997. Đến cuối năm 2014, Việt Nam đã có trên 117 ngàn tàu cá, trong đó tàu khai thác xa bờ lớn hơn 90 CV có khoảng 25 ngàn chiếc, tập trung vào các họ nghề chính như: lưới kéo, lưới vây, lưới rê và nghề câu.                            

          Vấn đề cấp bách cần giải quyết là sắp xếp, bố trí trên cơ sở xác định nghề khai thác và quản lý khai thác nguồn lợi thủy sản xa bờ một cách hiệu quả, khai thác đi đôi với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản theo hướng bền vững.

Tiềm năng nguồn lợi thủy sản xa bờ

Bảng 1. Trữ lượng cá nổi lớn

TT

Loài/nhóm

Trữ lượng

(1.000 tấn)

Tỷ lệ

(%)

Khả năng khai thác bền vững (1.000 tấn)

Ghi chú

I

Nhóm cá thu, ngừ

760,0

67,5

380,0

 

1

Cá ngừ đại dương*

45,0

3,9

17 - 21,0

 44,8 - 52,0

2

Cá ngừ vằn

618,0

53,5

   

3

Cá ngừ chù

46,5

4,0

   

4

Cá ngừ chấm

23,9

2,1

   

5

Cá ngừ ồ

16,3

1,4

   

6

Cá thu

30,3

2,6

   

II

Nhóm cá khác

376,0

32,5

188,0

 

7

Cá kiếm cờ

123,3

10,7

   

8

Cá kiếm

59,2

5,1

   

9

Cá đuối

64.5

5,6

   

10

Cá nhám

15,3

1,3

   

11

Cá nổi khác

113,7

9,8

   

 

Tổng cộng

1.156,0

100,0

568,0

 

* Bao gồm: Cá ngừ vây vàng và mắt to                                   Nguồn: Viện Nghiên cứu hải sản

        Từ bảng 1 cho thấy:

         Trữ lượng cá nổi lớn (gồm nhiều loài như cá ngừ sọc dưa, cá ngừ bò, cá ngừ chấm, cá ngừ vằn, cá nục đỏ đuôi, cá cờ, cá nhám...) trung bình ở vùng biển Việt Nam ước tính khoảng 1.156.000 tấn. Trong đó, nhóm cá thu ngừ ước tính 760.000 tấn (chiếm 67% tổng trữ lượng cá nổi lớn). Cá ngừ vằn có trữ lượng chiếm ưu thế, ước tính khoảng 618.000 tấn (chiếm 53,5% tổng trữ lượng cá nổi lớn).

        Nhóm cá ngừ đại dương (bao gồm cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to) có trữ lượng trung bình ước tính khoảng 45.000 tấn (dao động trong khoảng từ 44.800 tấn đến 52.000 tấn). Như vậy, khả năng khai thác của cá ngừ đại dương trung bình khoảng 17.000 tấn/năm (dao động trong khoảng từ 17.000 tấn đến 21.000 tấn).

         Trữ lượng cá nổi nhỏ (gồm các loài cá nục, cá cơm, cá bạc má...) thường tập trung ở vùng nước ven bờ nhưng xuất hiện không đều theo mùa vụ hàng năm.

         Nguồn lợi cá nổi là thế mạnh của vùng biển Nam Trung Bộ, trong đó cá nổi lớn đặc biệt là cá ngừ đại dương và cá ngừ vằn là đối tượng chủ yếu cho các nghề khai thác xa bờ như nghề câu cá ngừ đại dương và nghề lưới vây.

Hình 1. Cá ngừ vằn

          Cá ngừ vằn có tên tiếng Anh: Skipjack  tuna, tên khoa học: Katsuwonus pelamis (Linnnaeus, 1758).

           - Phân bố: chủ yếu ở vùng biển miền Trung, vùng biển khơi bắt gặp nhiều hơn vùng biển ven bờ.

          - Mùa vụ khai thác: Quanh năm

          - Ngư cụ khai thác: Lưới vây, lưới rê, câu vàng, câu giật, câu kéo.

          - Kích thước khai thác: Dao động 240 - 700mm, chủ yếu 480 - 560mm.

          - Dạng sản phẩm: ăn tươi, đóng hộp.

          Không gian khai thác: Là vùng biển xa bờ thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam nằm trong phạm vi kinh, vĩ độ xác định tại 5 điểm có tọa độ như sau:

                  - Điểm số 1: 16000’ N; 109045’E

              - Điểm số 2: 16000’ N; 112030’E

              - Điểm số 3: 12045’ N; 110015’E

              - Điểm số 4: 8045’ N; 109015’E

              - Điểm số 5: 9015’ N; 113015’E

           Khái niệm về lưới vây và sơ lược về sự phát triển của nghề lưới vây 

            Lưới vây (hay còn gọi là lưới bao, lưới rút, lưới rút chì) là một trong những ngư cụ phổ biến ở các vùng ven biển nước ta. Lưới vây khác với kéo, lưới rê ở chỗ ngư cụ này chỉ chuyên khai thác các loài cá, tôm đi thành đàn lớn với kích thước tương đối đồng đều và thuần loài. Lưới được đánh bắt theo nguyên lý, thả lưới theo vòng tròn trên mặt nước đến độ sâu nhất định, lọc nước bắt cá. Lưới vây là một giải lưới có dạng gần giống hình chữ nhật, thường được sử dụng để bao vây đàn cá nổi đang di chuyển hoặc tập trung dưới nguồn sáng hoặc chà. 

            Tùy theo kích cỡ tàu thuyền và đối tượng khai thác, lưới vây thường có chiều dài từ 300 - 1500m và chiều cao từ 45 - 150m.

             Hiện nay, số lượng tàu làm nghề lưới vây trong cả nước có trên 6.000 chiếc, chiếm khoảng 5% các loại nghề, trong đó số lượng tàu lưới vây khai thác xa bờ có khoảng 2.500 chiếc. Đối tượng khai thác bằng nghề vây khá đa dạng, nghề vây ven bờ khai thác chủ yếu là các loài cá nổi nhỏ như: cá nục, trích, bạc má, chỉ vàng, tráo, cơm, hố, ngừ chù, ngừ chấm, v.v…, trong khi nghề vây xa bờ khai thác chủ yếu là các lòai cá ngừ: cá ngừ vằn, ngừ ồ, ngừ vây vàng. Sự phát triển nghề lưới vây ở các vùng biển của nước ta có sự khác nhau rõ rệt. 

          Vùng biển vịnh Bắc bộ: 

            Nghề lưới vây phát triển rất yếu. Phần lớn các tàu làm nghề lưới vây có công suất máy rất nhỏ. Sản lượng khai thác của lưới vây chỉ chiếm 4,5% tổng sản lượng nghề lưới vây toàn quốc. Do tàu thuyền nhỏ, ngư trường khai thác chủ yếu là các vùng nước ven bờ, độ sâu nhỏ hơn 30m. Trên các tàu nhỏ việc thu lưới thường bằng tay và sử dụng tời kéo bằng gỗ, tay quay. 

              Vùng biển miền Trung: 

            Do đặc điểm ngư trường vùng biển này khá sâu, nguồn lợi cá nổi phong phú nên nghề lưới vây khá phát triển. Ngư trường hoạt động của nghề lưới vây vùng này khá sâu rộng. Hàng năm, tàu lưới vây các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa thường di chuyển ngư trường, hoạt động các vùng biển vịnh Bắc bộ và Đông - Tây Nam bộ. 

            Vùng biển Đông - Tây Nam bộ: 

            Nghề lưới vây của vùng này khá phát triển mạnh, có nhiều tàu lưới vây công suất lớn. 

         Phân loại lưới vây 

         Các loại lưới vây thông dụng được phân loại như sau: 

         Phân chia theo phương pháp khai thác:  Lưới vây tự do; lưới vây kết hợp ánh sáng; lưới vây kết hợp ánh sáng và chà.

         Phân chia theo đối tượng khai thác: Lưới vây cá ngừ; lưới vây cá nổi nhỏ; lưới vây cá cơm 

             Phân chia theo số lượng tàu sử dụng để cùng thu, thả lưới: Lưới vây 1 tàu; lưới vây 2 tàu (ít sử dụng).           

            Cách phân loại phổ biến trong thực tế nghề cá của Việt Nam là:

             Lưới vây tự do: người ta có thể dò tìm đàn cá bằng mắt thường hoặc sử dụng thiết bị dò tìm đàn cá sau đó vây bẳt đàn cá. 

              Lưới vây kết hợp ánh sáng: sử dụng ánh sáng để tập trung cá, rồi tiến hành thả lưới đánh bắt đàn cá. 

              Lưới vây kết hợp ánh sáng và chà: có thể sử dụng lưới vây tự do hoặc lưới vây ánh sáng để đánh bắt kết hợp chà. Chà là thiết bị làm từ nhiều loại vật liệu khác nhau để tập trung cá thành đàn, sau đó dùng ánh dáng dụ ra ngoài vùng chà để vây bắt. 

             Lưới vây cá ngừ: là loại lưới vây có kích thước lớn, được sử dụng để khai thác đối tượng là cá ngừ. Có thể khai thác theo hình thức vây tự do hoặc kết hợp với ánh sáng và chà 

Cấu tạo lưới vây (Hình 2)

Hình 2. Cấu tạo của lưới vây

            Lưới:i: Lưới được tạo thành do áo lưới (những tấm lưới dệt sẵn) và lưới chao (có thể đan hoặc cắt từ tấm lưới dệt sẵn), bao gồm áo lưới (Lưới tùng, lưới thân, lưới cánh), lưới chao.

            Lưới vây cá nổi nhỏ: là loại lưới vây có kích thước mắt lưới nhỏ, sử dụng để đánh bắt các đối tượng cá nổi nhỏ (cá nục, cá ngân, cá tráo,…). Có thể khai thác theo hình thức vây tự do hoặc kết hợp ánh sáng và chà. 

           Dây giềng: Giềng phao và giềng; Giềng rút là dây chịu lực chính trong quá trình thu lưới lên tàu, giềng rút chính được luồn qua tất cả các vòng khuyên. 

           Trang bị phao chì: Phao được lắp ráp trên giềng phao nhằm tạo lực đảm bảo để giềng phao luôn nổi trên mặt nước trong quá trình thả và thu lưới; chì được lắp ráp vào giềng chì để tăng tốc độ rơi chìm của lưới nhằm ngăn chặn đàn cá trốn thoát; vòng khuyên được chế tạo từ nhiều loại vật liệu, được liên kết với giềng chì dùng để cuộn rút giềng chì khi thu lưới bắt cá. 

         Hình dạng của lưới vây trong quá trình đánh bắt (Hình 3)

Hình 3. Hình dạng lưới vây

             Một số thông số chính của các mẫu lưới vây ở Việt Nam hiện nay 

      Lưới vây kết hợp ánh sáng, lưới vây kết hợp ánh sáng và chàhà 

          Dựa vào đặc tính đàn cá thích nấp vào nơi có chướng ngại vật, người ta thường sử dụng những cành tre, lá dừa,... liên kết lại rồi thả xuống biển để tập trung cá. Tập hợp cành tre hoặc lá dừa này gọi là chà. Sử dụng ánh sáng kết hợp chà là phương pháp tập trung cá đứng thành đàn sau đó dùng ánh sáng dụ cá ra ngoài vùng có chà để thả lưới vây bắt hoặc đơn thuần dùng ánh sáng tập trung cá rồi dùng lưới vây bắt cá là các hình thức đánh bắt phổ biến nhất của nghề lưới vây ở Việt Nam. Hiện nay, có khoảng 70 - 90% số tàu lưới vây sử dụng ánh sáng hoặc ánh sáng kết hợp chà để khai thác hải sản. Do cá đã tập trung quanh nguồn sáng vì thế trong trường hợp này kích thước lưới vây không cần lớn vẫn có thể vây bắt được đàn cá, thông thường chiều dài lưới vây cá nổi thường từ 350 - 700m, chiều cao lưới (kéo căng) là 70 - 120m, kích thước mắt lưới ở tùng 2a = 20 - 25mm. Đối với lưới vây đánh bắt cá cơm, các kích thước có thể giảm hơn, chiều dài lưới 300 - 500m, chiều cao lưới 45 - 55m, kích thước mắt lưới 2a = 10mm. 

            Lưới vây tự dodo 

            Lưới vây tự do là hình thức đánh bắt chủ động. Tàu chạy trên biển tìm đàn cá. Khi phát hiện đàn cá dùng lưới vây để vây bắt, vì thế có thể đánh bắt cả ban ngày và ban đêm (ban đêm phát hiện cá nhờ những ánh lân tinh do đàn cá phát ra khi chuyển động). Do phải vây bắt đàn cá đang di chuyển với tốc độ nhanh nên lưới vây loại này đòi hỏi chiều dài lưới và độ cao lớn. Đối với những loài cá có tốc độ bơi càng cao, yêu cầu chiều dài và chiều cao của lưới vây càng lớn. 

            Hiện nay hầu hết các tàu lưới vây ở Việt Nam đều là hình thức vây 1 tàu. Ở một số tỉnh như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận, ngư dân sử dụng thêm một tàu phụ gọi là “ghe lui”. Tàu phụ này làm nhiệm vụ hỗ trợ trong việc thắp đèn dụ cá và vận chuyển cá về bờ, đảm bảo độ tươi của sản phẩm. 

         Tình hình khai thác nghề lưói vây ở các tỉnh Nam Trung bộ 

          - Đề án“Thí điểm tổ chức khai thác , thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi”.

           Ngày 6/6/2014, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ký Quyết định số: 3465/QĐ-BNN-TCTS V/v Phê duyệt Đề án; “Thí điểm tổ chức khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi” được thực hiện ở 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà..

            Mục tiêu chung của Đề án:

           Thí điểm tổ chức sản xuất cá ngừ theo chuỗi giá trị nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị cá ngừ đại dương (cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá ngừ vằn) theo hướng công nghiệp, hiện đại, gắn khai thác với thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, hài hòa lợi ích giữa ngư dân và doanh nghiệp; đồng thời khai thác hiệu quả, bền vững nguồn lợi làm cơ sở để nhân rộng cho các nhóm đối tượng khác. Kết quả thực hiện Đề án trong 6 tháng đầu năm 2015:

            Đến tháng 6 năm 2015 (Bảng 2, 3), tổng số lượng tàu lưới vây của 3 tỉnh là 675 chiếc, trong đó Bình Định là nhiều nhất 540 chiếc, Phú Yên 115 chiếc và Khánh Hoà 21 chiếc. Tổng sản lượng trong 6 tháng đầu năm 2015 đạt t 32.650 tán cá ngừ vằn (?).

      Bảng 2. Số lượng tàu tham gia khai thác cá ngừ

Địa phương

Nghề câu tay và câu vàng (chiếc)

Nghề vây (chiếc)

Nghề rê (chiếc)

Bình Định

1.096

540

12

Phú Yên

562

114

75

Khánh Hòa

214

21

192

Cộng

1.872

675

279

Tổng số

2.826

Nguồn: Tổng cục Thủy sản

     Bảng 3. Sản lượng cá ngừ đại dương và cá ngừ vằn (6 thàng đầu năm 2015)

Địa phương

Cá ngừ vây vàng, mắt to (tấn)

Cá ngừ vằn (tấn)

Bình Định

4.269

15.780

Phú Yên

3.243

2.120

Khánh Hòa

2.295

14.750

Cộng

9807

32.650

Tổng cộng

42.457

Nguồn: Tổng cục Thủy sản

            - Nghề lưới vây ở Bình Thuận

             Mặc dù,không phải tỉnh thực hiện Đề án: “Thí điểm tổ chức khai thác , thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi”, Bình Thuận là tỉnh có nghề lưới vây phát triển mạnh với số lượng tàu nhiều nhất so với 3 tỉnh tham gia Đề án, đồng thời ngư dân Bình Thuận có nhiều cải tiến nghề vây truyền thống sang nghề vây khơi.

            Theo số liệu thống kê của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Thuận (Bảng 4), toàn tỉnh có 605 tàu lưới vây. Trong đó có 42 phương tiện làm nghề lưới vây có công suất máy trung bình từ 50 đến 90 CV, 201 tàu lưới vây có công suất máy trên 90 CV, 181 phương tiện có công suất trên 250 CV.

     Bảng 4. Tàu lưới vây Bình Thuận theo công suất (năm 2015)

Phân loại

50 - 90CV

> 90CV

>250CV

Số lượng (chiếc)

42

201

181

Tổng cộng

424

Nguồn: Chi cục KT&BVNLTS Bình Thuận

             Mùa vụ khai thác chính của nghề lưới vây rút chì (nhóm công suất trên 150 CV) là kéo dài từ cuối vụ cá bắc (tháng 2) đến hết tháng 10 hàng năm. Nhóm tàu có công suất lớn (>300 CV), chủ yếu khai thác ở vùng biển xa bờ: Trường Sa, Nam Trường Sa, từ Đông nam mỏ Đại Hùng đến Đông nam đảo Phú Quý.

            Với nhóm tàu có công suất lớn, thời gian chuyến biển thường kéo dài trên 2 tháng, thời gian bám biển dài hơn do có tàu chuyển tải sản phẩm khai thác vào bờ, mua bán sản phẩm đánh bắt được và tiếp nhận nhiên liệu, nhu yếu phẩm, thực phẩm trên biển (mô hình Tàu mẹ - tàu con). Vì vậy, việc bám biển dài ngày sẽ giảm thiểu được chi phí đi lại, thời gian di chuyển nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác hải sản của đội tàu. Thông thường, tàu lưới vây xa bờ sử dụng nhiều hình thức đánh bắt khác nhau trên cùng một phương tiện như: kết hợp sử dụng ánh sáng để dụ cá, chà cố định, vây đảo ngời (vây ngày).

           Trong những tháng gần đây, sản lượng khai thác của các tàu lưới vây của tỉnh Bình Thuận có hiệu qủa khá cao, sản lượng khai thác đạt khoảng 100 tấn/tàu/tháng. Cũng theo Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, thành phần sản lượng chính của nhóm tàu này là cá nục Thái (khoảng 45%), nhóm cá ngừ (vây vàng, mắt to, sọc dưa…)  chiếm khoảng 45% còn lại là nhóm cá khác như cá Nục heo, cá chàm…

          Trong khi đó, nhóm tàu lưới vây có công suất nhỏ hơn (dưới 300 CV), đánh bắt gần bờ hơn và thời gian chuyến biển ngắn hơn (khoảng 7 đến 10 ngày/chuyến). Sản lượng đánh bắt của mỗi chuyến biển nhóm tàu này thấp hơn (10 - 15 tấn/chuyến, tương ứng với 30 - 45 tấn/tàu/tháng). Thành phần sản lượng của nhóm tàu này cũng khác biệt so với nhóm phương tiện ở trên. Nhóm cá ngừ nhỏ (chủ yếu là cá ngừ chấm, ngừ chù…) chiếm khoảng 25%, cá Nục, Chỉ vàng, cá Trác… chiếm khoảng 60 – 70%.

Bảng 5. Một số cải tiến của ngư dân Bình Thuận để đánh bắt cá nổi lớn   

Loại tàu

Lưới vây truyền thống

Lưới vây cải tiên

VÀNG LƯỚI

Chiều dài vàng lưới

 400 – 500 m

  –

Độ thô chỉ lưới

“nhợ 6” (210 D3x2)

“nhợ 9” (210 D3x3)

Chì

200g/viên

250g/viên

Vòng khuyên

2kg/vòng

5kg/viên

THIẾT BỊ TRÊN BOONG

Vỏ gỗ

Thu lưới thường bằng tay và sử dụng tời kéo bằng gỗ, tay quay hoặc tời trích lực

 

   Puli thuỷ lực, tời trích lực, cần cẩu

THIẾT BỊ DÒ CÁ

Trực tiếp và gián tiếp

Trực tiếp bằng mắt theo kinh nghiệm

Máy đo sâu dò cá. máy dò ngang Sonar, máy định vị, máy thông tin liên lạc hiện đại

MÁY CHÍNH

Động cơ diesel

Công suất 56 – 74 CV

> 300 CV

NGỪ TRƯỜNG VÀ ĐỐI TƯỢNG

Ngư trường

Gần bờ

Vùng khơi

Đối tượng

Cá nổi nhỏ

Cá nổi lớn

           Trước đây, ngư dân chỉ sử dụng vàng lưới có chiều dài 400 - 500m, độ thô chỉ lưới là loại nilon “nhợ 6” (210 D3x2), chì loại 200g/viên, vòng khuyên 2kg/vòng (Bảng 5).   

           Khi tàu hoạt động ở vùng khơi, cá ngừ bơi nhanh hơn, khôn hơn không cải tiến vàng lưới thì không có hiệu quả. Ngư dân thay toàn bộ vàng lưới truyền thống  bằng vàng lưới cải tiến sử dụng loại “nhợ 9” (210 D3x3), chì loại 250g/viên và vòng khuyên 5kg/vòng mới đủ tốc độ rơi chìm, đánh bắt được các loài cá bơi nhanh, đảm bảo cá không thoát kịp ra khỏi giềng chì.

    Tàu lưới vây điển hình ở Việt Nam

         Ngày 04/6/2015, tàu lưới vây vỏ composite Gia Bảo 2015 mang kí hiệu: KH-

95177-TS (Hình 4, 5) do Viện Nghiên cứu Chế tạo Tàu thuỷ (UNINSHIP) Đại học Nha Trang thiết kế và thi công đã được hạ thủy.    

   Hình 4. Hạ thủy tàu Gia Bảo 2015

Hình 5. Chạy thử ngày 05/6/2015

        Tàu được thiết kế và thi công theo đơn đặt hàng của Ông Dương Văn Quang,  ngư dân Vũng Ngán, Vĩnh Nguyên, Khánh Hòa tham gia Nghị định 67 của Chính phủ.    

        Đặc tính kỹ thuật của tàu lưới vây KH-95177-TS

       Vật liệu chế tạo tàu: Composite (FRP)       

        Kích thước chính: Dài x Rộng x Cao = 21,1m  x  5,70m  x 2,75m     

         Mô tả tàu: Tàu có đường hình là sự tổ hợp ưu điểm của tàu cá Nhật bản và tàu cá truyền thống Việt Nam: Phần dưới mớn nước tương tự mẫu tàu Nhật (phần đáy rộng, có hông nhọn nhằm giảm biên độ lắc, đường trục chân vịt hạ thấp để cải thiện tốc độ, phần đuôi có bố trí giá chữ V để tăng lượng nước vào chân vịt); Phần trên mớn nước và bố trí chung: thiết kế theo đặc điểm nghề khai thác và có tính vùng miền; Phần ca bin là sự kết hợp hài hòa giữa mẫu ca bin Nhật (về hình dáng, trang bị sinh hoạt) và Việt Nam (mui ca bin có kết cấu vững chắc, có thể chịu được tải trọng 10 tấn, phục vụ việc thao tác và lắp đặt trang thiết bị theo đặc điểm nghề khai thác).

         Loại mặt boong: Một mặt boong.

         Bố trí mặt boong: Cabin lái và chỗ ở thuỷ thủ đoàn bố trí ở phía đuôi tàu. Mặt boong thao tác bố trí phía mũi tàu. Ca bin tàu có hình dáng hài hòa, kết cấu 3 lớp vừa chống nóng, vừa giảm ồn và giảm rung.

        Thiết bị mặt boong: Tời kéo lưới trích lực từ máy chính và puli thuỷ lực gắn trên cần trục chuyên dùng phục vụ nghề vây mạn.

       Bảo quản sản phẩm: Đá lạnh; 06 hầm cá với tổng dung tích 50m3.

       Thiết bị dò cá: Máy dò ngang Sonar, Máy định vị, đo sâu dò cá.

       Ngư cụ: Lưới vây            

       Trang bị động lực:

                 - Máy chính: HYUNDAI, Q 405, Hàn quốc, công suất 405CV. Tốc độ máy 2000v/p, hộp số kèm theo máy có tỉ số truyền i = 4,48

                - Máy phụ: CUMMINS, L10, Mỹ, công suất 310CV – dẫn động máy phát điện công suất 55 kW.

Đánh giá chung nghề lưới vây Việt Nam

     Ưu thế:

          - Nguồn lợi cá ngừ, đặc biệt là cá ngừ vằn phong phú còn nhiều tiềm năng.  

          - Nghề lưới vây đã đóng góp gần 40% tổng sản lượng khai thác cá biển hàng năm và số lượng tàu thuyền khai thác lưới vây chiếm khoảng 27% tổng số tàu thuyền lắp máy của cả nước.       

          - Nghề cá ngừ đại dương du nhập vào Việt Nam từ năm 1994, tuy hình thành muộn, nhưng có tốc độ phát triển khá nhanh về số lượng, sản lượng khai thác và kim ngạch xuất khẩu, mở ra hướng đi đầy triển vọng cho nghề cá xa bờ.

          - Những cải tiến trong nghề lưới vây khơi của ngư dân các tỉnh Nam Trung bộ nói chung và Bình thuận nói riêng đang phát huy hiệu quả và hy vọng trong tương lai nghề lưới vây khơi sẽ là một nghề chủ lực của ngư dân.

      Hạn chế:

          - Cá ngừ chưa được khai thác hợp lý vì ở Việt Nam chưa có tàu lưới vây chuyên dùng cho đánh bắt cá ngừ.

           - Nghề lưới vây của các tỉnh Nam Trung bộ chủ yếu là đánh bắt cá nổi nhỏ. Tàu lưới vây của Việt Nam chủ yếu sử dụng tàu vỏ gỗ, công suất trung bình khoảng 350 CV, lưới ngắn, độ cao lưới thấp, tốc độ thả lưới chậm, nên khai thác cá ngừ ở vùng biển xa bờ không hiệu quả.

          Tình trạng trên đã hạn chế nhiều đến sản lượng đánh bắt và sự phát triển của nghề lưới vây cá ngừ, đòi hỏi phải có các phương án hợp lý ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm hiện đại hoá đội tàu lưới vây cá ngừ nói chung và cá ngừ vằn nói riêng trên cơ sở phân tích hiệu quả kinh tế./,

        Tổng quan nghề lưới vây thế giới và lựa chọn các phương án phát triển đội tàu lưới vây cá ngừ ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ (kỳ 2)

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Dự án  Hợp tác huấn luyện kỹ thuật, chuyển giao công nghệ khai thác cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis) bằng nghề lưới vây đuôi ở vùng biển xa bờ Việt Nam” Viện Nghiên cứu Hải sản

2. Hiện trạng cá nổi lớn ở vùng biển xa bờ Việt Nam giai đoạn 2011-2012. Viên Nghiên cứu Hải sản

3. Nghề lưới vây Việt Nam. Nguyễn Văn Kháng, Đoàn Văn Phụ. Bách khoa thủy sản, Hội Nghề cá Việt Nam

4. Tài liệu Sơ kết thực hiện Đề án “Thí điểm tổ chức khai thác , thu mua, chế biến, tiêu thụ cá ngừ theo chuỗi” 6 tháng đầu năm 2015, ngày

12/7/2015 tại Phú Yên

5. Bình Thuận, nghề lưới vây xa bờ còn tiềm năng phát triển? Nguyễn Bá Thông. www.wcag.mard.gov.vn

6. Cải tiến mới trong nhề lưới vây ở Bình Thuận. www.49hhkt.forum0.

7.  Nghề lưới vây. Nguyễn Long và ctv. Tài liệu tham khảo: Trích bài “Hiện trạng công nghệ khai thác hải sản xa bờ ở Việt Nam trong tuyển tập Các công trình nghiên cứu “Nghề cá biển” tập 2 (2001) của Viện Nghiên cứu Hải sản

8. Cá ngừ - tuna. khafa.org.vn

9. Kỹ thuật khai thác bằng lưới vây. Dương Tử . thuysanvietnam.com.vn

10. Hoạch định không gian khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tỉnh Khánh Hoà. Th.S Võ Thiên Lăng - Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Khánh Hòa

11. Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm hiện đại hoá đội tàu khai thác xa bờ khu vực miền Trung. fishnet.gov.vn

12. Hạ thuỷ tàu cá Gia Bảo 2015. www.vientauthuy.com.vn


VP Tỉnh hội




CÁC TIN KHÁC
  VẬT LIỆU COMPOSIT CHO TÀU CÁ
  NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỬ DỤNG, SỬA CHỮA VÀ QUẢN LÝ MÁY CHÍNH TRONG HỆ ĐỘNG LỰC TÀU CÁ XA BỜ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
  TỔNG QUAN NGHỀ LƯỚI VÂY (kỳ cuối)
  ĐẦU TƯ HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG NGHỆ BẢO QUẢN SAU THU HOẠCH CHO ĐỘI TÀU KHAI THÁC XA BỜ TỈNH KHÁNH HÒA THEO NGHỊ ĐỊNH 67/2014/NĐ-CP
  NGHIÊN CỨU GẮN LIỀN VỚI ỨNG DỤNG PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG
  CẦN SỬ DỤNG ĐÈN LED KHAI THÁC HẢI SẢN
  QUẢN LÝ SINH KHỐI VÀ TẠO RA NGUỒN NƯỚC
  XÂY DỰNG CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG Ở KHÁNH HÒA
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang