Số lượt truy cập:   572420


Quản lý áo nuôi tôm trong điều kiện thời tiết bất lợi
Hội Nghề cá Khánh Hòa - 09/06/10-09:10:17

Hiện nay với diễn biến thời tiết bất lợi, nắng nóng kéo dài là điều kiện dễ phát sinh dịch bệnh, việc quản lý và điều khiển các yếu tố môi trường cho phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của tôm sẽ góp phần ngăn chặn dịch bệnh phát sinh. Sau đây là một số biện pháp kỹ thuật người nuôi tôm cần lưu ý khi quản lý môi trường ao nuôi:


1. Độ sâu của nước ao không dưới 1 m; tốt nhất là 1,5 m, môi trường sống của tôm ổn định.

2. Màu nước nên có màu xanh nâu, vàng nâu hoặc xanh lá chuối non. Những màu này thể hiện chất lượng tảo tốt. Màu xanh lam hoặc xanh lục đều không tốt. Tảo tàn: Khi tảo tàn đột ngột, thay đổi điều kiện môi trường ao sẽ gây sốc cho tôm làm tôm giảm ăn. Với ao nuôi tôm trên cát khó gây màu do có độ mặn cao, lượng vi sinh vật thấp, nghèo dinh dưỡng. Vì vậy cần thiết phải cấy vi sinh và gây màu với liều lượng cao hơn thông thường. Dùng men vi sinh hoà nước tạt đều khắp ao. Quạt nước cung cấp oxy hòa tan để vi sinh phát triển. Lưu ý vào thời điểm sáng sớm và khuya để cung cấp oxy kịp thời cho tảo phát triển. Bổ sung thêm vôi Dolomite, vôi nông nghiệp cũng là biện pháp nâng độ kiềm và kích thích màu nước phát triển.

3. Độ trong của ao nuôi nên ở mức 40 - 60 cm trong vòng 60 ngày đầu. Từ ngày 60 đến khi thu hoạch, độ trong tốt nhất là ở mức 35 - 45 cm. Màu nước tốt sẽ làm hạn chế cường độ ánh sáng chiếu xuống đáy hạn chế tảo đáy phát triển và đồng thời cũng ổn định nhiệt độ nước. Khi độ trong ao > 50cm, ta nên gây màu vào lúc nắng, thường sử dụng phân NPK (loại 20-20-0) với Urê theo tỷ lệ 1:1 với lượng 1-2 kg/1000m3 trong  2-3 ngày. Đối với ao gây màu khó cần bổ sung thêm hỗn hợp nấu chín với tỷ lệ bột cá: đậu nành: cám gạo là 4:1:1 với lượng 1-2 kg/1000m3. Nếu độ trong thấp < 30 cm tảo phát triển qúa mạnh sẽ làm cho pH , hàm lượng oxy biến động lớn trong ngày, có nguy cơ tảo tàn hàng loạt gây ô nhiễm môi trường, do đó cần có biện pháp khống chế sự phát triển của tảo như thay 20-30% nước trong ao, dùng đường cát hòa tan 2 -3kg/1000m3 hoặc Formalin 1-2lít /1000m3 (sử dụng vào khu vực cuối gió, có tảo đậm) vào lúc 9-10 giờ sáng.

4. Oxy hoà tan duy trì trên 4 ppm. Ôxy hoà tan có tác động trực tiếp đến chế độ ăn, trao đổi chất, sức khoẻ và tỷ lệ sống của tôm. Nếu oxy thiếu tôm sẽ có biểu hiện giảm ăn, chậm lớn, mang tôm có màu hồng. Vì nuôi với mật độ cao nên rất dễ bị tình trạng thiếu oxy nhất là từ  thời gian sau 45 ngày tuổi, nếu kéo dài tôm sẽ bị nổi đầu chết hàng loạt. Ðể tăng cường lượng oxy hòa tan trong ao nuôi sử dụng các loại thiết bị như: máy quạt nước, máy sục khí... Tuỳ theo mật độ thả nuôi, thời gian nuôi mà có biện pháp bố trí và vận hành các loại máy cho phù hợp đảm bảo cung cấp đầy đủ oxy trong ao. Oxy hòa tan trong ao còn liên quan mật thiết đến sự phát triển của tảo, bị tiêu hao do quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong ao. Do đó oxy thường giảm thấp vào ban đêm nhất là vào lúc 2 - 5giờ sáng nên cần cung cấp oxy ở những thời điểm này tránh tình trạng tôm bị ngạt và nổi đầu. Ngoài ra cần bổ sung các vi sinh vật có lợi phát triển thúc đẩy qúa trình phân hủy các chất hữu cơ làm sạch đáy ao.

5. pH duy trì nước trong khoảng 7.5 - 8.5. pH dao động trong ngày quá 0.5 sẽ gây bất lợi cho sự sinh trưởng của tôm. pH càng cao tôm càng dễ bị nhiễm độc NH3 .Sự biến động của pH hàng ngày trong ao phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của tảo. Nếu pH thấp hơn hoặc cao hơn, phải thay nước và bón vôI Dolomite hoặc vôi nông nghiệp với lượng 150 - 300 kg/ha. Định kỳ dùng vôi nông nghiệp 7- 10 ngày /lần vào buổi tối với lượng 10–15 kg/1000m3 để để ổn định pH và hàm lượng kiềm trong ao, tạo điều kiện cho tôm lột xác.

6. Độ mặn thích hợp từ 10 đến 25 ‰. Khi vi khuẩn phát sáng phát triển cần giảm độ mặn xuống đến 10-15 ‰ cho tới lúc thu hoạch, để giảm lượng vi khuẩn này xuống một mức độ ít gây hại hơn. Trong quá trình chăm sóc quản lý việc cấp nước biển hoặc nước ngọt (nước ngầm từ các giếng khoan), nếu thay đổi qúa đột ngột sẽ gây sốc tôm. Cần kiểm tra các yếu tố : hàm lượng kim loại nặng ( Cu, Zn, Fe....) , các khí độc( H2S, NH3 ,SO2 ,CH4 ...) từ nguồn nước ngầm để có biện pháp xử lý.

7. Nhiệt độ nước thích hợp cho tôm phát triển nằm trong khoảng  26 – 330C. Nhiệt độ dưới 25 hoặc trên 340 đều làm cho tôm giảm ăn. Để duy trì nhiệt độ nước nằm trong khoảng thích hợp chúng ta nên thả vào thời gian thích hợp (thả đúng lịch thời vụ) và giữ mức nước trong ao trên 1 m.

8. Khí độc NH3 và H2S: Hàm lượng NH3 nên < 0,1 mg/l và H2S < 0,02 mg/l. NH3 trong ao chủ yếu do bài tiết của tôm, thức ăn thừa, sinh vật nổi chết và ngay trong nguồn nước.NH3 trong nước tăng cao cũng làm tôm sinh trưởng chậm, giảm khả năng hấp thụ thức ăn... .Nếu hàm lượng khí độc tăng cao  cần tăng hàm lượng ôxy hoà tan bằng cách thay nước hay tăng cường sục khí. Xử lý bằng thuốc tím để oxi hóa một phần chất hữu cơ, dùng Zeolite để hấp phụ sau đó dùng chế phẩm sinh học phân hủy đáy ao tạo môi trường cho vi sinh vật có lợi phát triển, gây lại màu nước để tảo hấp phụ các chất ô nhiễm.Tăng cường sục khí đáy ao cũng là biện pháp để giảm lượng H2S và NH3. Trường hợp cần nhanh chóng cấp cứu tôm do ngộ độc khí độc thì sử dụng De-Odorase liều lượng 0.6 ppm.

9. Độ kiềm trong quá trình nuôi phải trên 80 mg/l. Độ kiềm giữ vai trò làm hệ đệm giúp giữ cho pH được ổn định và duy trì tốt sự phát triển các sinh vật phù du và tôm, nhất là quá trình lột xác Khi độ kiềm thấp cần bón vôi nông nghiệp hay bột vỏ sò (CaCO3), Dolomite CaMg(CO3)2 liên tục với lượng 25kg/ha/ngày cho đến khi độ kiềm trong khoảng thích hợp. Lưu ý: cần phân biệt tác dụng của 04 nhóm vôi chủ yếu là CaCO3, Ca(OH)2 , CaO và CaMg(CO3)2 mà sử dụng từng loại vôi cho phù hợp. Ví dụ: muốn tăng độ kiềm thì sử dụng vôi CaCO3 hoặc CaMg(CO3)2, trường hợp nước có độ pH quá thấp thì dùng vôi Ca(OH)2 hoặc CaO để nâng nhanh độ pH lên.

10. Lượng vi khuẩn : Phải đảm bảo lượng vi khuẩn vibrio nhỏ hơn 10 2 cfu. Định kỳ xác định mật độ vi khuẩn 2 ngày /lần .Nếu vượt quá 10 2 cfu thay 20-30 % lượng nước trong ao. Cấy men vi sinh trong ao nuôi và ao chứa 1 tuần 1 lần sau khi thay nước. Nên lấy nước theo kết quả quan trắc môi trường của cơ quan chuyên môn.

11. Kiểm tra sức khỏe tôm và nâng cao sức đề kháng: Kiểm tra mức độ sử dụng thức ăn của tôm qua sàn thức ăn (nhá) và dùng các biện pháp kỹ thuật khác (định kỳ chài tôm, theo dõi lượng thức ăn trong ruột, diễn biến màu nước, các phụ bộ của tôm như râu, chân bò, chân bơi, đuôi, … để phát hiện những dấu hiện bất thường... ) và kinh nghiệm (ví dụ với tôm nuôi trên cát thì cát xuất hiện trong nhá, tôm nhảy lên khỏi mặt nước khi có tiếng động hoặc ánh ánh sáng – vào ban đêm,…là dấu hiệu để nhận biết sức khỏe của tôm nuôi tốt) để kiểm tra tình hình sức khỏe và khả năng sử dụng thức ăn mà điều chỉnh thức ăn theo từng lần. Quản lý tốt thường đạt hệ số chuyển đổi (FCR) từ 1,0-1,2.

Khi tôm giảm  ăn ta cần phải tìm ra nguyên nhân, cách nhận biết và điều chỉnh cho thích hợp. Tôm giảm ăn do các nguyên nhân sau: Thời tiết xấu và thay đổi đột ngột, tôm lột xác, chất lượng nước xấu, đáy ao ô nhiễm, tôm bệnh…. Lột xác: Đây là hiện tượng bình thường trong chu trình phát triển của tôm. Khi tôm lột xác hàng loạt, cần giảm lượng thức ăn xuống 25%, và cho ăn tăng trở lại sau 1 - 2 ngày. Tăng sức đề kháng cho tôm bằng cách trộn bổ sung bột Vitamin C vào viên thức ăn viên công nghiệp từ 3 – 5 gam/ kg thức ăn. Trộn bổ sung men vi sinh đường ruột vào thức ăn viên công nghiệp 3-5 gam/ kg thức ăn. Bổ sung khoáng chất canxi, photpho vào thức ăn viên từ 5-10 gam/ kg thức ăn.

12. Xử lý nước: Diệt tạp bằng saponine nồng độ 10-15 kg/1000m3, độ mặn của nước càng cao, tác dụng của saponine càng mạnh. Khử trùng nước: Sử dụng BKC với lượng 1-1,5 lít /1000m3 hoặc Iod với lượng 0,5- lít /1000m3, thuốc tím với lượng 5-10  lít /1000m3 để khử trùng nguồn nước. Trường hợp ao nuôi tôm bị bệnh dịch ở vụ trước, có thể khử trùng nguồn nước bằng Chlorine (hàm lượng 30 -38%), với liều lượng 20 -30 kg/1000m3. Chú ý, nếu dùng chlorine thì không sử dụng saponine. Sau 2-3 ngày, cần bổ sung chế phẩm sinh học tạo cân bằng cho môi trường ao.

                Nguyễn Ngọc Tú

TTKN-KN Bình Định





CÁC TIN KHÁC
  An Giang: Xây dựng vùng nguyên liệu cá tra đạt chuẩn Global GAP
  Nuôi tổng hợp tôm sú, cá dìa và cua
  Hệ thống nuôi thủy sản khép kín (CSA): Giải pháp khả thi nuôi thủy sản sạch
  Đã có giống "tôm thẻ Viện III"
  Phát triển nghề nuôi cá chim vây vàng ở Việt Nam
  Tầm quang trọng của chất lượng thức ăn trong sản xuất giống tôm sú chất lượng cao
  Phòng trừ bệnh đen mang, long khớp đầu ngực tôm hùm
  THIẾT BỊ SỬ DỤNG TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
  Ứng dụng khoa học công nghệ vào nuôi trồng thủy sản
  Một số yêu cầu kỹ thuật nuôi tôm hùm lồng
TIN VẮN



Coppyright Trung tâm nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Phần mềm
Trường Đại học Nha Trang

Hội nghề cá Khánh Hòa - 04 Phan Chu Trinh (Khu liên cơ 2) - Tp Nha Trang